Search Vietlist.us
Search the Web

Quảng Cáo
Khắp Nơi

 

-------o0o-------

Quảng Cáo Thương Mại San Jose

  1. An Ninh
  2. Bác Sĩ
  3. BS Nha Khoa
  4. BS Nhãn Khoa
  5. Bail Bond
  6. Ban Nhạc
  7. Bàn Ghế Giường
  8. Bán Xe Hơi
  9. Bảo Hiểm
  10. Bói Toán_Phong Thủy
  11. Cây Cá Cảnh
  12. Cần Người_Việc
  13. Cellular Phone
  14. Cà Phê
  15. Chợ, Siêu Thị
  16. Chùa_Nhà Thờ
  17. CơmTháng_Thức Ăn
  18. Computer_Electronics
  19. Chôn Cất, Bia Mộ
  20. Cổ Phiếu-Stock
  21. Dạy Kèm_Giữ Trẻ
  22. Dạy Lái Xe
  23. Dạy Nhạc: Piano...
  24. Dụng cụ Nhà Hàng
  25. Điện_Heat_Air
  26. Đưa Rước
  27. ĐịaỐc_TàiChánh_Tax
  28. Giặt Thảm
  29. Gạch, Thảm, Màn
  30. Giải Trí_Party_TV
  31. Giặt Ủi_Thợ May
  32. Giúp Dọn Nhà
  33. Hoa_Áo Cưới
  34. Khiêu vũ
  35. Làm Vườn_Cắt cỏ
  36. Linh Tinh
  37. Luật Sư_Di Trú
  38. Massage_Relax
  39. Nhà Hàng_Food
  40. Nhập cảng_Xuất cảng
  41. Nhiếp Ảnh_Video
  42. Quà Lưu Niệm_Gift
  43. Sách Báo_In Ấn
  44. Sign_Banner
  45. Sửa Xe_MuaXe
  46. Thẻ Tín Dụng
  47. Thợ Khéo_Ổ Khóa
  48. Thợ Sơn
  49. Tiệm Vàng
  50. Tiệm Bánh
  51. Tìm Thợ_Việc
  52. Tow Xe
  53. Thợ Ống Nước
  54. Thợ May_DryClean
  55. Tiệm Quần Áo
  56. Thuốc Tây
  57. Thuốc Bắc_D.Thảo
  58. Thẩm Mỹ_Tóc_Tay
  59. Võ Thuật
  60. Xây Dựng_Sửa Nhà

Đừng nghe những gì Cộng sản nói. Hãy nhìn những gì Cộng sản làm !
Đừng sợ những gì Cộng sản làm. Hãy làm những gì Cộng sản sợ !

-------------oo0oo--------------

Trang Việt Sử

LacLongAuCo

--------o0o--------

DI TẢN VÀ VƯỢT BIÊN

KÝ ỨC VỀ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN

 

Bùi Trọng Cường & Nguyễn Phục Hưng

 

Sau ngày 30-4-1975, một ký giả Tây phương đã viết là ‘Dưới chính sách khắc nghiệt của 

Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng…vượt biên’. 

(Ginetta Sagan).

Câu nói dí dỏm của Sagan đã diễn tả được một thực trạng rất bi hài của 

dân dộc Việt Nam trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm kể từ 

Tháng Tư, 1975 cho đến năm 1996. Những người chạy trốn chế độ 

Cộng Sản có thể chia làm hai đợt chính: 

 

Đợt đầu được mệnh danh là người Di Tản vì họ rời Việt Nam ngay trong khoảng 

tháng Tư 1975 và đợt thứ hai thường được mệnh danh là ngưòi Vượt Biên, 

dù bằng đường bộ hay đường biển.

 

 

Di Tản

Ngày 30 tháng 4, 1975 là ngày chính thức ghi nhân sự sụp đổ của Việt Nam 

Cộng Hoà trước làn sóng xâm lăng của cộng quân. Cuối tháng 4,1975 đã có 

những đợt rời Việt Nam của các nhân viên và gia đình các sứ quán, công ty 

ngoại quốc cũng như nhừng người Việt có phương tiện riêng hoặc được các 

cơ quan Hoa Kỳ và các nước đồng minh bảo trợ.

 

Ngày 29 tháng tư 1975, Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford chính thức ra lịnh 

khỏi động chiến dịch “Frequent Wind” để di tản quân nhân, nhân viên dân sự 

Mỹ và một số người Việt đã từng cộng tác hay liên hê với chính phủ Mỹ và 

chính phủ Việt Nam Cộng Hòa rời khỏi Việt Nam để tránh bị Cộng Sản trả thù.

 

Cùng thời điểm này, rất nhiều người Việt Nam cũng đã quyêt đinh di tản. 

Họ là những người mà đã ít nhất một lần bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ mồ mả 

ông bà, tổ tiên để di cư vào Nam năm 1954, họ là những người đã có ít nhiều 

hiểu biết, kinh nghiệm về cộng sản, họ là những người đã may mắn vượt thoát 

được sau cuộc triệt thoái của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa khỏi miền 

Cao nguyên và miền Trung, họ là những người chối bỏ chế độ cộng sản. 

Ðó là lý do mà làn sóng người di tản trong tháng Tư 1975 đã làm 

nhiều người ngạc nhiên với con số khoảng 300 ngàn người và các cơ quan 

cứu trợ quốc tế đã phải mất nhiều thời gian để giúp họ định cư ở các nước 

tự do nhất là Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan và các trai tạm cư ở Subic Bay 

(Philippines), Guam, Wake Island, California, Arkansas, Florida, Pensylvania 

đã phải mở mãi cho đến cuối năm 1975. 

 

Chiến dịch ‘Frequent Wind” trên nguyên tắc chỉ kéo dài từ 3:30 chiều ngày 

29 tháng tư và chấm dứt vào đúng 21 giờ ngày 30 tháng tư, 1975 khi 

người lính Mỹ cuối cùng được trục thăng bốc khỏi Sàigòn và trụ sở của 

cơ quan DAO (Defence Attachés Offfice) của Hoa Kỳ được Thủy quân 

lục Chiến Hoa kỳ cho phá nổ. Tuy nhiên với làn sóng người di tản 

rầm rộ đổ ra biển Thái Bình Dương bằng các tàu hải quân, thương thuyền 

và cả các tàu đánh cá nhỏ, việc cứư vớt người vẫn được tiếp tục trong nhiều 

tuần sau đó. Hạm đội số 7 của Hải quân Hoa Kỳ với các hàng không 

mẫu hạm Hancok , Midway và nhiều tàu chiến hạm cũng như nhiều 

thương thuyền Hoa kỳ và quôc tế đã tham dự vào 

chiến dịch cứu vớt người trên biển rồi chuyển qua các trai ty nạn ở Subic, 

Guam trước khi phân tán họ đi tị nạn tai Hoa kỳ và các nước tự do khác như 

Canada, Uc, Pháp, Anh, vân vân. Trên thực tế, giai đoan di tản và vượt biên 

không có sư gián đoạn. Có chăng chỉ là sự phân chia thời điểm chính phủ 

Hoa Kỳ chấm dứt chiến dịch vớt người trên biển mà thôi, còn sự ra đi của 

người Việt vần tiếp tục không ngừng.

 

Những hình ảnh sau đây ghi nhận cảnh hãi hùng của một cuộc di tản 

chưa từng có trong lich sử Việt Nam và thế giới.

 

m 

Đoàn người Di tản từ miền Trung 

http://photo.tcworks.net/slideshow.php?set_albumName=album392

 

 

m 

Helicopter Evacuation From the American Embassy

http://vietnamese-american.org/tuantran/journey.html

 

 

 

 

m 

Dân Di Tản Chạy ra Tr ực Thăng tại Trụ sở DAO, Saigon

http://www.midwaysailor.com/midwayfreqwind/spectrum75

 

 

 

m 

Dân Di Tản đến Midway bằng trực thăng Hoa Kỳ

http://www.midwaysailor.com/midwayfreqwind/spectrum75

   

 

m 

 

Một máy bay VNCH chở người di tản đáp xuống Midway

http://vietnamese-american.org/tuantran/journey.html

 

 

m 

Một Thuyền Đánh Cá chở người Di Tản được Midway tiếp cứu

http://vietnamese-american.org/tuantran/journey.html

 

 

 Cuộc Di Tản tháng tư năm 1975 đã có nhiều cảnh đẫm máu và nước mắt nhưng tình 

nhân loai cũng đã được biểu lộ rõ rệt từ những quân nhân và các cơ quan từ thiện. 

Sau khi đã đến đựợc Mỹ hay các nước mở vòng tay đón nhân, dân Di Tản còn phải trải 

qua nhiều khó khăn như sự khác biệt ngôn ngữ, văn hóa, vân vân để tạo lại cuộc sống. 

 

 

Vượt Biên 

Họ ra đi mà không biết mình đi đâu, sẽ đến đâu; đa số không biết gì về đại dương cùng 

những nguy hiểm của những chuyến hải hành cũng như không biết gì về những khó khăn 

khác đang chờ đợi họ. Ðó là lý do mà có lúc người ta đã nói “ nếu có ba người vượt biên 

thì chỉ có một người đến bến an toàn, một người chết trên biển vì bảo tố, đói khát và 

hải tặc và một người sẽ bị bắt lại và đi tù”.

 

The State of the World’s Refugees 2000:

50 Years of Humanitarian Action

 

Những Người Vượt Biên là ai và tai sao họ phải liều mình đi tìm Tự Do?

Họ chính là những người chậm chân trong giai đoạn Di Tản. Có thể lúc đó họ còn chút 

hy vọng là những người Cộng sản cũng còn chút lương tâm và sáng suốt không nỡ đối 

xử với những người dân miền Nam như kẻ thù không đội trời chung và họ sẵn sàng 

cộng tác với những người Cộng sản để cùng xây dựng một Đât nước Thông Nhất trong

Hòa Bình. Họ đã lầm sau bao nhiêu ngày lầm than tôi mọi cho những người Cộng Sản 

vô lương. Họ đã mất hết tài sản, tự do và cả phẩm giá con người dưới chánh sách 

trả thù tàn bạo của Cọng sản. Họ có thể chịu nghèo khổ để hy vọng vào một tương lai 

xán lạn. Nhưng tương lai chỉ có tù đầy, thù hận và dối trá. Thế hệ của họ coi như bỏ vì 

họ đã lỡ tin Cộng Sản. 

 

Nhưng còn thế hệ con cái họ? Họ không thể chịu cực khổ nhìn con cái họ trở thành 

những con vật trong xã hội Cộng sản Xã hội Việt Nam đã lùi lại hơn 30 năm sau cái 

ngày gọi là ‘giải phóng’. Tương lai họ còn gì đâu ngoài một lối đi duy nhất: Vượt Biên. 

Nếu may ra thoát được qua bờ Tự Do thì con cái họ còn có hy vọng sống được một 

cuộc đời đáng sống. Còn không, đời sống ở Việtnam có khác gì đã chết. Bới vậy Họ 

đã quyết chí liều mình Vượt Biên qua Cam-pu-chia, đến Thái Lan hay 

Vượt Biển qua Mã Lai, Nam Dưong, Phi Luật Tân nơi nào cũng được, miễn là 

ra khỏi điạ ngục Việt Nam bất chấp sự bắt bớ lùng xét của công an, hiểm 

nguy của hải tặc, bão tố hãi hùng ngoài biển Đông. 

 

Sau đây là vài trích đoạn từ các tác phẩm viết về tỵ nạn:

 

“Người Việt Nam chỉ ra đi trong thế cùng, không còn cách nào có thể sinh sống tại 

quê hương của mình. Ðây là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại chống lại chế độ cộng sản 

Hà Nội bằng chính mạng sống của mình. Trong số nầy, rất nhiều người mang hoài bảo 

sẽ có một ngày trở về quang phục quê hương. Số người tử nạn trên bước đường 

vượt biên không thể thống kê chính xác được. Người ta phỏng chừng từ 400.000 đến 

500.000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết.

 

Vượt biên năm 1975 là cuộc xuất ngoại vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam kể từ ngày 

lập quốc. Ðây là một sự kiện hoàn toàn bất ngờ đối với Nam Việt, Bắc Việt, Hoa Kỳ và 

cả thế giới. Trước đó, không một ai có thể tiên đoán được phong trào vượt biên sẽ 

xảy ra đến mức lớn lao như thế. Phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 

ngang bằng với thời gian chiến tranh từ 1954 đến 1975. Tổng số người rời bỏ đất nước 

bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt biên, lên đến 

khoảng gần bằng tổng số dân chúng và quân nhân Việt Nam cả Nam lẫn Bắc tử trận 

trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975 (khoảng 3,000,000).

 

 

m 

 

Những Thuyền Nhân nằm la liệt trong khoang tàu

http://photo.tcworks.net/slideshow.php?set_albumName=album392

 

Những đợt vượt biên ào ạt, bất chấp mạng sống đã làm rúng động lương tâm nhân loại, 

và đã phơi trần bản chất độc ác của chế độ Cộng Sản Việt Nam (CSVN) trước công luận 

thế giới. Sự kiện nầy là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với nhân loại về “Thiên Đường 

Cộng Sản” và trở thành động cơ thúc đẩy các nước Ðông Âu ly khai chủ nghĩa cộng sản, 

và dẫn đến sự sụp đổ của khối cộng sản năm 1990-1991?

 

Phỏng theoTrần Gia Phụng 

 

‘‘Bước vào đầu thế kỷ 21, Việt Nam vẫn là một trong các nước chậm tiến trên thế giới, 

mặc dầu có sẵn tiềm năng, nhưng vì sai lầm nghiêm trọng của đường lối Xã Hội 

Chủ Nghĩa. Những thảm trạng xẩy ra trong hơn nửa thế kỷ vừa qua cần phải được 

ghi nhớ, trong đó có hai sự kiện gần nhất là việc nhà cầm quyền cộng sản giam cầm 

công dân vô tội trong tù cải tạo và việc người dân trốn ra ngoại quốc trong những 

điều kiện bất trắc đầy nguy hiểmGiam giữ người vô tội trong các trại tập trung 

cải tạochế độ cộng sản đã một mặt vi phạm tội ác, một mặt phung phí năng lực 

quốc gia để phục vụ mục tiêu đảng pháiĐảng Cộng Sản không chịu thú nhận rằng 

chính tàn bạo của họ là nguyên nhân khiến người dân phải bỏ nước ra đi, mà họ 

còn lợi dụng cơ hội ra đi đó để cướp đoạt tài sản, thu vàng bán bãi, mặc cho 

tài năng quốc gia thất thoát ra ngoài và biết bao người dân lương thiện đã bị chết 

kinh hoàng trên biển cả. 

 

Phạm Hữu Trác – Vàng Máu và Nước Mắt

 

Trong 2 năm qua, nhất là từ tháng 9 năm 1978, làn sóng người tị nạn từ nước

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang tràn ngập các trại tị nạn ở 

Ðông Nam ÁNgoài ra, hàng trăm ngàn người Việt Nam đã bị chính quyền 

Hà Nội bắt buộc ra đi trên những con tàu không thể đi biển được, và đã 

biến mất trên Biển Ðông đầy bất trắc

 

Ở một số bờ biển Thái Lan, các ngư dân đã phải quay tàu về đất liền khi 

chứng kiến cảnh hãi hùng như một phần thi thể của người vượt biển vướng 

vào lưới, vân vân.

 

 

m 

Thuyền Nhân trên đường vượt biển

http://photo.tcworks.net/slideshow.php?set_albumName=album392

 

Vì sao quá nhiều người liều mạng bỏ trốn khỏi Việt Nam? Ta có thể tìm thấy câu trả lời 

khá dễ dàng trong các chính sách hậu chiến đã được công khai thực hiện: “tiêu diệt các 

thế lực thù nghịch: trừng trị những kẻ bù nhìn, đánh bại giới tư bản, đánh đuổi người 

Trung Hoa.”

 

Hiện tượng thuyền nhân đã phản ảnh được cái đau khổ của người phải rời bỏ quê hương. 

Họ không phải chỉ kín đáo đi từ bên này sang bên kia biên giới, chờ đợi cơ hội quay 

về khi mọi chuyện đã trở lại bình thường hay theo ý họ mong muốn. Họ ra đi, không 

hề biết trước mình sẽ đến đâu, không có viễn ảnh hồi hương, và cam chịu mọi 

hiểm nguy. Họ phải đang tâm cắt bỏ những ràng buộc với quê hương và dân tộc. 

 

m 

Vietnamese refugees http://www.library.ubc.ca/asian/FinalAsian/Vietnam/V-08.html 

 

Thuyền nhân là những người không chịu đựng được chính sách hà khắc của chính quyền 

cộng sản Họ là những người mà trước năm 1975, không bao giờ muốn rời bỏ quê hương. 

Trớ trêu thay, lịch sử đã đảo lộn, đã thay đổi cuộc đời ho vượt xa sức họ tưởng tượng, 

đến mức họ phải quyết định bỏ lại sau lưng tất cả những người và những gì yêu quý, 

liều mạng sống của mình cũng như chấp nhận mọi nỗi kinh hoàng của một tương lai

bất định, để rời khỏi Việt Nam.

 

Lesleyanne Hawthorne - Refugee - The Vietnamese Experience

Những ‘thuyền nhân’, danh từ thế giới gán cho họ, thường phải chịu nhiều rủi ro lớn lao, 

từ rất lâu trước khi đặt được chân xuống tàu. Trong khi cố gắng tìm cách để thoát được 

công an và lính biên phòng, họ đã chấp nhận rủi ro bị bắn, hoặc nhẹ nhất là, bị bắt lại 

và bỏ tù. Những ai may mắn xuống được tàu phải ra đi trên các thuyền đánh cá 

mỏng manh đầy ắp người không thích hợp để đi vượt đại dương. Thường thường, họ

 nhắm hướng đi đến Thái Lan hoặc Mã Lai, nhưng lại cập bến ở đâu đó giữa Hồng Kông 

và Úc Ðại Lợi. Biển cả cũng cướp đi một số người mà không ai biết được là bao nhiêu.

 

 

m 

Thuyền chở 162 người vượt biển bị đắm lúc sắp đáp được vào

 http://www.cic.gc.ca/english/department/legacy/chap-6a.html

 

Tuy vậy, cuối cùng thì câu chuyện về những người tị nạn Ðông Dương là câu chuyện về 

những người bị từ chối. Trước tiên và đau đớn nhất, họ bị chính quyền của chính nước 

họ khước từ. Họ cũng nhiều lần bị cự tuyệt bởi các quốc gia lân bang nơi họ đến xin 

tạm trú, và bị từ chối ít nhất là vào lúc đầu bởi các nước Tây Phương và Nhật Bản, 

những quốc gia duy nhất có khả năng và tấm lòng cứu vớt thuyền nhân.

 

Barry Wain - The refused: The Agony of The Indochina Refugees

 

“Chúng tôi cần gạo và thực phẩm. Trong những ngày này, chúng tôi không có tiền để 

mua thêm thức ăn. Chúng tôi không được phép có công việc làm. Nếu thực phẩm được 

phát trễ, chúng tôi chỉ việc nhịn đói. Chúng tôi có rất ít nước uống, vì đang là mùa khô. 

Tôi nghĩ nếu mọi chuyện không thay đổi, chúng tôi sẽ chết hết.”

Refugee: Thailand, 1978

 

“Trong bệnh viện, một người đàn ông và đứa con trai đang khóc trên lán. Tàu họ đã 

đến đêm hôm trước, nhưng bị lật úp. Người vợ, người mẹ đã chết đuối.”

Delegates of ‘Society of Friends’: Malaysia, 1979

 

“Các lính tuần tra phát hiện có những bao ni-lông xoáy tròn trên mặt nước. Họ chuẩn bị tăng tốc độ vọt đi tiếp, thì khám phá ra rằng, 

các bao nhựa này đã được thổi phồng, căng lên, để chở hai em bé sơ sinh, dĩ nhiên là 

chưa biết bơi. Người mẹ đang ra sức đẩy chúng. Người cha đã không may chết đuối 

trước đó.”

Report: Mekong River Crossing, 1978

 

Người mẹ của một em trai 14 tuổi kể lại, tàu của cô bị hải tặc từ một tàu cào của 

Thái Lan nhảy sang. “Tôi biết bọn chúng sẽ làm gì”, cô vừa kể vừa khóc nức nở. 

“Tôi van xin chúng đừng làm gì trước mặt con trai tôi. Vì thế, chúng đưa tôi vào 

cabin tàu, rồi 7 tên cưỡng hiếp tôi trong đó.” Refugee: Malaysia, 1979

 

Anh Huỳnh Văn Trân, 34 tuổi, ngồi trên 1 băng ghế gỗ ở trại tị nạn Songkhla ở 1 bờ 

biển cực nam của Thái Lan, thuật lại câu chuyện của mình lần thứ ba.

 

Anh ra đi trên một chiếc tàu gồm 62 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Họ may mắn 

gặp thời tiết và gió thuận lợi, và không bị rắc rối gì về máy tàu. Vào ngày thứ 5 trên 

biển, một chiếc tàu mã lực lớn dài 15 mét đến cặp sát mạn tàu anh. Có 12 người đàn 

ông trên thuyền, tất cả đều trang bị vũ khí đầy đủ. Trước hết, chúng ra lệnh cho hai 

người trong số phụ nữ sang tàu chúng. Một trong hai người này là vợ anh Huỳnh 

Văn Trân. Cô này bị ghì chặt xuống, súng trường kê sát thái dương, và bị ra lệnh 

không được kêu la. Cô bị chúng cưỡng hiếp. Bọn hải tặc sau đó nhảy qua tàu tị nạn, 

cướp đi mọi thứ có giá trị, bắn một người đàn ông còn do dự khi chúng cướp. Sau đó 

chúng tăng tốc độ phóng đi với các món của cải chiếm được, nhưng thình lình quay 

ngoắt lại. Vẫn giữ nguyên tốc độ tối đa, chúng nhắm thẳng vào tàu tị nạn và đâm mạnh. 

Chiếc tàu hải tặc đã lập đi lập lại hành động này trong khi nhóm người tị nạn đang 

hốt hoảng ngoi ngóp giữa biển khơi. Bọn cướp biển cố ý lái tàu cán qua vô số chiếc 

đầu đang nhấp nhô, có lẽ vì không muốn để sót lại nhân chứng nào. Khi vợ anh Trân 

còn đang chới với trên mặt nước, với đứa con trai mới lên 3 đang níu chặt cổ mẹ, cả hai 

đã bị tàu cán qua và chết đuối. 10 người trong số họ sống sót, sau đó được vớt lên 

và đưa tới Songkhla.

 

Toàn thể thính giả đều nín lặng. Ðó là một câu chuyện thương tâm hơn những 

chuyện khác, nhưng hẳn nhiên không phải là ngoại lệ, hiếm có. Có rất nhiều tàu tị nạn 

đã bị hải tặc tấn công nhiều hơn một lần.”

UNHCR: 1979

 

Bao nhiêu thuyền nhân đã chết ngoài biển khơi?Không ai biết chắc cả. 

Nhiều người nói với chúng tôi rằng có lẽ 5% các tàu rời Việt Nam đã bị 

mất tích, nhưng nhiều người lại cho là có đến 70% tàu không hề 

đến được bờ. Delegates of ‘Society of Friends’: Pulau Bidong, 1979

Georgina Ashworth The boat people and the road people

 

Trong vài năm đầu những thuyền tỵ nạn còn được tiếp đón tử tế bởi dân chúng và 

chính phủ các nước láng giềng nhưng vì làn sóng tỵ nạn ngày càng nhiều nên những 

niềm nở ban đầu đã bị giảm xuống hoặc tệ hơn đã bị thay bằng thái độ xua đuổi như 

đã từng xẩy ra ở Thái Lan, Mã Lai. Tầu của người tỵ nạn, khi bị tầu hải quân Mã kéo 

trở ra hải phận quốc tế có một số đã bị chìm và làm chết oan một số người. Do đó 

nếu như may mắn không bị bắt lại, thoát được gió bão, không hư máy dọc đường và

không gặp hải tặc các thuyền nhân vẫn chưa chắc sẽ đến được các trại tạm cư. Ðó là 

chưa kể đến những khó khăn về đủ mọi phương tiện từ vệ sinh, y tế, nước uống, 

thực phẩm…nơi các trại tỵ nạn. Thật ra dùng chữ trại tỵ nạn cho lịch sự vậy thôi chứ 

vào thời điểm ấy không một quốc gia nào có thể lường được là con số người chạy 

cộng sản, bỏ nước ra đi sẽ đông đến như vậy. Do đó chẳng có quốc gia nào đã có 

những sửa soạn để có thể đón tiếp một số lượng người đến quá ào ạt và nhiều 

đến thế. Trại tỵ nạn đã là những kho xưởng, những trại lính, những chiếc phà cũ, 

những chiếc phao nổi, những hòn đảo san hô hoặc đảo hoang, nhỏ nằm chơ vơ 

giữa đại dương. Ðặt được chân trên đất là phải đi tìm cỏ, đốn cây để dựng lều 

để tạm trú tránh cái nóng ban ngày và cái lạnh ban đêm...

 

Còn nhiều nhiều nữa, kể sao cho hết những cái khổ của kiếp lưu vong. 

Ðến năm 1988 vì quá mệt mỏi với số người tỵ nạn phải cưu mang trên hơn

 mười năm, Cao Ủy tỵ nạn và các quốc gia có trại tạm cư đã quyết định áp dụng 

hệ thống thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị của các thuyền nhân nếu 

họ đến sau ngày 16-6-1988. Quyết định này cũng đã gây ra khá nhiều thảm cảnh 

rất đáng thương như được kể lại dưới đây.

 

Sau đây là vài trích đoạn về những thảm cảnh đầy nước mắt đó.

 

“0 giờ ngày 16-6-1988 mở đầu một định mệnh khác cho những người Việt Nam vượt biển đến Hồng Kông. 

Kể từ ngày này họ sẽ bị đối xử như những người nhập cảnh bất hợp pháp và phải chờ 

chính phủ thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị, trước khi được cứu xét cho đi 

định cư ở nước thứ ba. Thời điểm phủ nhận ý nghĩa ban đầu sự ra đi của người vượt biển. 

Thời điểm đánh đổ mọi luận cứ sắp sẵn về quyền tỵ nạn, về quyền đi tìm chỗ trú, và 

đồng thời che dấu luôn sự bất lực của con người trước thảm cảnh của đồng loại, sự 

hấp hối của lương tri trước nỗi khổ của những cuộc khởi hành muộn. Như một tấm 

màng nhện giăng ra chận bắt những cuộc đời lưu lạc, thời điểm 16- 6 dựng nên những 

trại giam khổng lồ trên khắp thuộc địa Hồng Kông, ghi thêm một thảm cảnh thời đại.”

 

Lê Ðại Lãng - NƯỚC MẮT TRONG TIM

 

“Ngày 20/5/1994, Lê Xuân Thọ, 28 tuổi, tự rạch bụng mình và tự thiêu. Sau đó anh 

đã chết vì phỏng nặng.” Phạm Văn Châu, một cựu quân nhân Việt Nam, tự thiêu ở 

trại tị nạn Galang, Nam Dương ngày 26/4/1994. Hai ngày thì anh qua đời.

 

 

m 

Vietnamese refugees were allowed to come on shore at the Government Dockyard at Canton Road.

 A number of water taps were installed for them to take a cold shower. 

http://www.library.ubc.ca/asian/FinalAsian/Vietnam/V-20.html

 

Ngày 12/4/1992, Nguyễn Văn Quang, một hạ sĩ thuộc Tiểu đoàn 1 Không vận của Nam 

Việt Nam, đã treo cổ tự tử ở trại Galang, Nam Dương, sau khi bị khước từ tư cách 

tị nạn chính trị, và đơn kháng cáo của anh cũng bị bác. Anh mất đi để lại 1 góa phụ 

và 3 đứa bé mồ côi cha còn nhỏ dại.

 

Ngày 30/8/1991, tại trại Galang, Nam Dương: cô Trịnh Kim Hương, 28 tuổi, tự thiêu 

sau khi bị phủ nhận tư cách tị nạn chính trị.

 

Hoàng Thị Thu Cúc, 26 tuổi, một trong số vài người sống sót khi vượt biên khỏi 

Việt Nam. Cha cô là lãnh tụ của một chính đảng chống cộng và đã chết trong 

‘trại cải tạo’ của cộng sản. Gia đình cô bị trục xuất khỏi nhà, tới một trại lao động 

cưỡng bức. Bản thân Cúc cũng bị đuổi khỏi trường vì ‘lý lịch gia đình xấu’. Bất kể 

những sự kiện trên, cô vẫn bị khước từ quy chế tị nạn. Tháng 12/1992, khi đơn kháng 

cáo của cô cũng bị bác bỏ, cô đã treo cổ tự tử, để lại bốn anh em trai ở trại Sikiew, 

Thái Lan.

 

Vụ tự sát của Lâm Văn Hoàng, 22 tuổi, đã gây nên một cuộc biểu tình phản đối ở 

trại tị nạn Pulau Bidong, Mã Lai. Anh đã lao mình từ vách đá xuống biển, sau khi bị 

từ chối tư cách tị nạn chính trị vào tháng giêng năm 1991.

 

Trần Văn Minh, cựu Trung úy, treo cổ tự tử ngày 10/10/1992. Ông được cấp quy chế 

tị nạn chính trị, nhưng người con trai Trần Minh Khôi, 18 tuổi, đã bị rớt ‘thanh lọc’. 

Vì Khôi không có 3.000 đôla Mỹ mà các viên chức duyệt xét đòi hỏi, đơn kháng cáo 

của anh sau đó cũng bị bác.

 

Ngày 8/12/1993, Trần Anh Dung từ trần khi lên cơn suyễn, sau khi Cao ủy tị nạn 

Liên Hiệp Quốc (LHQ) đóng cửa trạm y tế duy nhất trong trại tị nạn.

Tháng 2/1993, Lưu Thị Hồng Hạnh, một em gái 16 tuổi không người thân thích, 

đã tự thiêu sau khi Cao ủy tị nạn LHQ rút lại quy chế tị nạn của em. 

 

m 

Vietnamese refugees arriving at Hong Kong by junks. 

http://www.library.ubc.ca/asian/FinalAsian/Vietnam/V-27.html

 

                                                            

 

m 

 

Crowd of refugees 

http://www.library.ubc.ca/asian/FinalAsian/Vietnam/V-18.html

 

“Chị thương, hôm nay em đã bị từ chối tư cách tị nạn chính trị. Rạng sáng mai, em sẽ 

treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em cũng sẽ ở bên cạnh chị để 

che chở cho chị và các cháu” 

 

(Thư tuyệt mệnh của anh Nguyễn Văn Hai, 27 tuổi, viết cho chị, vào buổi tối trước 

khi tự tử trong Trại cấm Whitehead, Hồng Kông, ngày 16/2/1990.)

 

“Bản tường trình của luật sư đã khiến tôi phải sống trong lo sợ. Nó đã dần dần đẩy 

tôi vào chỗ chết.”

 

(Trịnh Anh Huy, 20 tuổi, tự thiêu ngay trước văn phòng của Cao ủy tị nạn LHQ ở 

Galang, Nam Dương, ngày 27/8/1992.)

 

“Tôi chết đi không phải vì tuyệt vọng, mà vì tôi muốn đem lại niềm hy vọng và 

sự sống cho nhiều người khác.”

 

(Vài hàng tuyệt mệnh của Nguyễn Ngọc Dung, 25 tuổi. Ngày 3/5/1993, anh đã tự 

đâm vào tim và chết tức khắc trước văn phòng Cao ủy tị nạn LHQ tại trại Sungei Besi, 

Mã Lai.)

 

m 

Living in the Refugee Camp

http://vietnamese-american.org/tuantran/journey.html

 

 

 

VIETNAMESE BOAT PEOPLE – A CRY TO HUMANITY

     

m 

Inside the Refugee Camp

http://vietnamese-american.org/tuantran/journey.html

 

 

m 

 

Boat people were waiting for medical checks before transferring to refugee camps

http://www.library.ubc.ca/asian/FinalAsian/Vietnam/V-32.html

 

Lời Kết

Cuộc Di Tản và Vượt Biên sau ngày 30 tháng tư năm 1975 là một bản án muôn đời đối 

với chính sách vô nhân đạo của Cộng Sản Việt Nam. Những cảnh tượng đau thương, 

kinh hoàng mà người Di Tản và Vượt Biên phải gánh chịu thật không bút nào ta hết. 

Tuy nhiên trong biến cố đầy bất hạnh đó, cũng không thiếu những tấm lòng bao dung, 

thể hiện rõ tình người, của binh sĩ và dân chúng Hoa Kỳ cũng như các quốc gia trong 

thế giới tự do, nhất là các nước vùng Đông Nam Á đã bao dung chúng ta tại các trai 

tị nạn.

 

Chúng ta mang ơn dân chúng và chính phủ các quốc gia đã cưu mang người Việt tỵ nạn, 

giúp chỗ tạm cư, cho phép định cư hoặc đã cứu vớt tầu tỵ nạn khi lạc lối, hết lương thực 

hay máy tầu bị hỏng. Chắc chắn là sự thành công của thế hệ thứ hai trong Cộng Ðồng 

Người Việt Hải Ngoại, sẽ không bao giờ xảy ra nếu không có sự cưu mang của các 

quốc gia trong Thế Giới Tự Do vào thời điểm đen tối đó.

 

Ngày hôm nay, sau hơn 30 năm tỵ nạn, viết lại một phần nhỏ trong những nỗi khổ đau 

của dân tộc để chúng ta ôn lại và ghi nhớ một sự kiện lịch sử không phải là của riêng 

Việt Nam, mà là của thế giới, trong đó chính chúng ta vừa là tác nhân, vừa là 

nhân chứng. 

 

 m  m 

  Các em tới Trại Tỵ Nạn . . . và thành công trên quê hương thứ hai    

 

Hơn 30 năm sống lưu vong, lúc nào đa số chúng ta cũng vẫn mong có ngày trở về để 

góp phần xây dựng lại quê hương lạc hậu, giúp cho dân tộc ta sớm được sống trong 

không khí Tự Do, Dân Chủ đích thực mà dân ta chưa bao giờ được hưởng.

 

Ðiều này chỉ có thể xảy ra khi người Việt trong và ngoài nước thật tâm đặt quyền lợi 

của Tổ Quốc lên trên mọi quyền lợi riêng tư và thoát được sự chi phối của các thế lực 

chính trị quốc tế.

 

* * *

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Tran Gia Phung – Speech Delivered at Montreal, Canada on April 30, 2002

Nguyễn Văn Canh - Cộng Sản Trên Ðất Việt - Kiến Quốc 2003

Ashworth Georgina – The Boat People and The Road People – Quartemaine House 1979

Phạm Hữu Trác – Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do – VÀNG MÁU và NƯỚC MẮT: Khảo Sát Về Tù Cải Tạo và Vượt Biên 

Trong Giới Y Sĩ – 2000

Paul Anthony – Why They Flee Their Homeland – Reader’s Digest December 1979

Grant Bruce – The Boat People: An ‘AGE’ Investigation – Penguin Books 1979

Hawthorne Lesleyanne – Refugee The Vietnamese Experience – Oxford University Press 1982, 
Wain Barry – The Refused: The Agony Of The Indochina Refugees – Simon & Schuster 1981

Lê Ðại Lãng – Bút Ký Hồng Kông: NƯỚC MẮT TRONG TIM – 1990, p. I

Support Committee for Refugees from Vietnam – Vietnamese Boat People: A CRY TO HUMANITY – 1994

 (Email from reader)

-------oo0oo-------

lacomau
Việt Cộng đối ngoại thì nhu nhược, bán nước,
đối nội thì tàn ác và hà khắc với nhân dân.


Những hình ảnh đẹp của Cộng Đồng Việt Nam

ucchau
Lá cờ vàng Việt Nam được chính quyền địa phương vinh danh và luôn được đồng bào trân trọng trong mọi lễ hội

Covang

CoVang

ucchau
Lá cờ vàng Việt Nam được chính quyền địa phương vinh danh và luôn được đồng bào trân trọng trong mọi lễ hội

congdong

congdong

congdong

congdong

congdong

covang
Lá cờ vàng Việt Nam được chính quyền địa phương vinh danh và luôn được đồng bào trân trọng trong mọi lễ hội

covang
Lá cờ vàng Việt Nam được chính quyền địa phương vinh danh và luôn được đồng bào trân trọng trong mọi lễ hội

 

Home Page Vietlist.us