Search Vietlist.us
Search the Web

Quảng Cáo
Khắp Nơi

 

-------o0o-------

Quảng Cáo Thương Mại San Jose

  1. An Ninh
  2. Bác Sĩ
  3. BS Nha Khoa
  4. BS Nhãn Khoa
  5. Bail Bond
  6. Ban Nhạc
  7. Bàn Ghế Giường
  8. Bán Xe Hơi
  9. Bảo Hiểm
  10. Bói Toán_Phong Thủy
  11. Cây Cá Cảnh
  12. Cần Người_Việc
  13. Cellular Phone
  14. Cà Phê
  15. Chợ, Siêu Thị
  16. Chùa_Nhà Thờ
  17. CơmTháng_Thức Ăn
  18. Computer_Electronics
  19. Chôn Cất, Bia Mộ
  20. Cổ Phiếu-Stock
  21. Dạy Kèm_Giữ Trẻ
  22. Dạy Lái Xe
  23. Dạy Nhạc: Piano...
  24. Dụng cụ Nhà Hàng
  25. Điện_Heat_Air
  26. Đưa Rước
  27. ĐịaỐc_TàiChánh_Tax
  28. Giặt Thảm
  29. Gạch, Thảm, Màn
  30. Giải Trí_Party_TV
  31. Giặt Ủi_Thợ May
  32. Giúp Dọn Nhà
  33. Hoa_Áo Cưới
  34. Khiêu vũ
  35. Làm Vườn_Cắt cỏ
  36. Linh Tinh
  37. Luật Sư_Di Trú
  38. Massage_Relax
  39. Nhà Hàng_Food
  40. Nhập cảng_Xuất cảng
  41. Nhiếp Ảnh_Video
  42. Quà Lưu Niệm_Gift
  43. Sách Báo_In Ấn
  44. Sign_Banner
  45. Sửa Xe_MuaXe
  46. Thẻ Tín Dụng
  47. Thợ Khéo_Ổ Khóa
  48. Thợ Sơn
  49. Tiệm Vàng
  50. Tiệm Bánh
  51. Tìm Thợ_Việc
  52. Tow Xe
  53. Thợ Ống Nước
  54. Thợ May_DryClean
  55. Tiệm Quần Áo
  56. Thuốc Tây
  57. Thuốc Bắc_D.Thảo
  58. Thẩm Mỹ_Tóc_Tay
  59. Võ Thuật
  60. Xây Dựng_Sửa Nhà

Đừng nghe những gì Cộng sản nói. Hãy nhìn những gì Cộng sản làm !
Đừng sợ những gì Cộng sản làm. Hãy làm những gì Cộng sản sợ !

-------------oo0oo--------------

Trang Sưu Tầm

Vietlist.us

--------o0o--------

ĐEM TÂM TÌNH VIẾT LỊCH SỬ THƯ THỨ BA GỬI NHÀ VĂN TRẦN THỊ BÔNG GIẤY

BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

Thành phố Westminster, Quận Cam, California,

Ngày 19 tháng 8 năm 2017.

Em Trần Thị Bông Giấy thân mến,

Anh từng nghe thiên hạ nói: “Người thầy thuốc mà lầm thì giết chết một con bệnh. Người làm chính trị mà lầm thì giết chết một thế hệ. Người làm văn hóa sai lầm thì giết hại muôn đời”. Nghĩ cho kỹ, đó là một nhận định rất đúng với thực tế lịch sử.

Người Tàu phát minh nhiều dụng cụ khoa học trước tiên trong nhân loại, nhưng các triều đại vua chúa Tàu lấy Nho giáo của ông Khổng Tử để cai trị dân, khiến cho nền văn minh nước Tàu dừng tại chỗ, lại còn bị các dân tộc chung quanh mà người Tàu coi là mọi rợ như quân Mông Cổ, quân Mãn Thanh đô hộ hàng trăm năm. Như vậy, ta có thể suy ra, nền văn hóa Nho Giáo ắt có vấn đề sai lầm.

Các vua nước ta từng đánh đuổi quân xâm lược Tàu ra khỏi biên thùy, nhưng lại áp dụng triệt để nền văn hóa Nho giáo của Tàu, nên nước mình cũng bị lâm vào tình trạng chậm lớn. Đó là lời giải đáp cho cô giáo Trần thị Lam ở Hà Tĩnh, tác giả bài thơ “Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh?”.

Một người như anh chỉ học được năm ba chữ Hán của Cha Thích từ hồi còn nhỏ mà dám kết tội Nho giáo làm trì trệ nền văn minh Tàu và Ta, thì không sao tránh khỏi bị người đời cho rằng anh là loại “ếch ngồi đáy giếng” mà dám “coi trời bằng vung”.

Hồi học Trung Học Phổ Thông, anh có nhìn thấy bộ sách Nho Giáo đồ sộ của Cụ Trần Trọng Kim, nhưng sợ mình nuốt không trôi nên không đọc. Về sau, anh có đọc bài nhận định của nhà văn Phan Khôi viết về bộ sách đó và đọc bài “Ảnh Hưởng Nho Giáo Vào Nước Ta” cũng của cụ Phan Khôi thì anh đã lờ mờ thấy được cái không ổn của Nho Giáo. Bởi vì nhà văn Phan Khôi là một nhà nho uyên thâm, từng đọc sách của Khổng Tử và sách của Bách Gia Chư Tử từ năm lên sáu (6) tuổi. Cho nên lập luận của Cụ Phan rất thuyết phục về sự tác hại của Nho Giáo. Điều quan trọng nhất là Cụ Phan đã dẫn chứng nhiều cuộc trao đổi giữa Khổng Tử với môn sinh để chứng minh Nho Giáo là vô thần mà Cụ Trần trọng Kim thì cho rằng Nho Giáo là hữu thần.

Cụ Phan viết rằng tuy mình là đệ tử chân truyền của Nho Giáo, từ Hán Nho đến Tống Nho. Nhưng Cụ lại khuyên dân Việt Nam ta phải dứt khoát từ bỏ Nho Giáo một cách không thương tiếc để tiến đến nền văn minh Dân Chủ của phương Tây tôn trọng Nhân Quyền. Rõ ràng Cụ Phan là nhà cách mạng nhìn xa trông rộng. Cụ còn là người khai sinh ra thơ mới và cổ vũ phong trào thơ mới.

Lại thêm một yếu tố nữa. Gần đây, hai ông Tàu chính cống là Lưu Á Châu (Liu Yazhou) – một vị Thượng tướng đang tại chức trong chế độ cộng sản Tàu – và ông Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo) – một nhà tranh đấu nhân quyền, được giải thưởng Nobel Hòa Bình – đã đồng loạt kết tội Nho Giáo. (Trong một bài tiểu luận, Lưu Hiểu Ba so sánh Khổng Tử giống như “Hôm qua chó nhà tang, hôm nay chó gác cửa”) thì mình không còn nghi ngờ gì nữa để kết luận nền văn hóa Nho Giáo là nguyên nhân làm cho dân nước mình “bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm” như lời cô giáo Trần thị Lam than thở.

Chủ nghĩa Karl Marx đã bị nhân loại ném vào thùng rác lịch sử, mà nay cộng sản Tàu đang chủ trương phục hồi và xiển dương Nho Giáo của Khổng Tử tại chính quốc và xuất cảng ra thế giới, thì cũng giúp cho chúng ta hiểu thêm rằng giữa Khổng Tử và Karl Marx có điểm tương đồng ở chỗ cả hai đều giúp cho nhà cầm quyền “muôn năm trường trị, nhất thống giang hồ” và đẩy lùi nền văn minh nhân loại.

Cụ Phan Khôi bảo rằng từ khi triều đình Nhà Nguyễn bỏ lối thi cử xưa, ít ai học chữ Hán, đạo Khổng dần dần tàn lụi. Nhưng ảnh hưởng Nho Giáo vẫn còn đè nặng vào đầu óc của trí thức và tập quán của dân chúng. Bằng cớ là trí thức Miền Nam hoàn toàn theo Tây học, mang quốc tịch Pháp, nhưng cái chất “Nho Giáo” vẫn tồn tại qua nếp suy nghĩ và cách ứng xử của họ trong xã hội.

*

Do ảnh hưởng Nho Giáo, con không được phép cãi (biện bác) lời Cha Mẹ, học trò không được cãi lời Thầy Cô, dân không được phép cãi lời Vua Quan phán, mặc dù lời dạy của Bề Trên sai trái. Cái phép tắc đó kéo dài từ đời này sang đời khác khiến cho não trạng của người trí thức Việt Nam dù thông mình tài giỏi đến thế nào cũng không thể vượt qua hai chữ “học trò” ngoan ngoãn (bon élève, good pupil) như một giáo sư Monavon, người Pháp, đánh giá. Cái thói gia trưởng trong xã hội Việt Nam vẫn tồn tại, cho dù Nho Giáo đã suy tàn, làm cho khả năng suy luận của con cháu yếu kém.

Chế độ quân chủ chuyên chính đàn áp, trị tội bằng cách xử tử hình hoặc tống giam vào ngục tối bất cứ ông quan nào dám trái ý vua đều mắc tội phạm thượng. Dần dà cách cai trị đó khiến cho giới sĩ phu trở nên hèn hạ, luồn cúi, nịnh bợ Vua để hưởng ân sủng. Rồi họ tìm đường tiến thân bằng gièm pha, hãm hại lẫn nhau vì đố kỵ. Công thần Nguyễn Trãi bị “tru di tam tộc” dưới triều Lê; Nguyễn văn Thành bị bắt ép uống thuốc độc dưới triều Nguyễn là do đám quần thần xúc xiểm, gièm pha, là bằng chứng cụ thể.

Chế độ quân chủ chuyên chính của Tàu hay của Ta đã tạo nên một xã hội bề ngoài có vẻ ngăn nắp, trật tự, ổn định, tuân phục, nhưng bên trong thì muốn phản kháng. Cho nên Tàu và Ta là hai mảnh đất tốt cho hạt giống cộng sản (bịp bợm hứa hẹn Thiên đường) nẩy mầm. Mặc dù giai cấp trí thức được nhà cầm quyền ưu đãi và nhân dân kính trọng, nhưng trong thâm tâm họ vẫn muốn có cuộc cách mạng đem lại công bằng xã hội. Bởi thế, nhiều trí thức thuộc dòng dõi Hoàng tộc và con cái thuộc dòng dõi Nguyễn Khoa, Hồ Đắc, Thân Trọng, Hà Thúc ở Huế đi theo cộng sản là vậy!

Hồ Chí Minh hô hào cách mạng, nhưng hành động chẳng khác nào Hoàng Đế. Giáo sư Trần Đức Thảo kể: “Một hôm có cán bộ lễ tân đến báo cho biết ngày mai sẽ được Hồ Chí Minh cho phép tiếp kiến. Người cán bộ đó dặn Trần Đức Thảo phải đứng xa Hồ ba thước, không được phép mở lời hỏi thăm sức khỏe của Người, không được phép đưa tay ra trước để bắt tay Người, không được xưng Tôi (tức là phải xưng con?) và chỉ trả lời những câu hỏi của Người mà thôi”(tức là không được phép đặt câu hỏi).

Vậy Hồ Chí Minh đâu khác Tần Thủy Hoàng khinh miệt trí thức, đốt sách chôn sống học trò?

Xưa kia các nhà Nho theo phò Chúa Nguyễn Phúc Ánh cầu viện quân Xiêm La, xin khí giới Pháp để đánh đổ Nhà Tây Sơn, mà không thấy trước rằng hễ lãnh tụ đi mượn sức mạnh ngoại bang để giành ngai vàng, thì trước sau gì nhân dân mình sẽ rơi vào vòng nô lệ ngoại bang đó. Giáo sư Tạ Quang Bửu là người theo Tây học, thông minh xuất chúng về các bộ môn toán học, vật lý học, triết học và nói cũng như viết thành thạo nhiều ngoại ngữ. Ông Bửu là Thứ trưởng Quốc Phòng, thay mặt Bộ trưởng Quốc Phòng Võ Nguyên Giáp, đặt bút ký vào Hiệp định Genève năm 1954 chia đôi Đất Nước. Ông Tạ Quang Bửu và tầng lớp trí thức ưu tú của ta hết mình phục vụ cái chế độ chủ trương “đào tận gốc, trốc tận rễ trí thức” và “Chống Mỹ Cứu Nước” là đồng lõa với Hồ Chí Minh làm tay sai Nga Tàu, ắt nước mình sẽ rơi vào vòng nô lệ nước Tàu, giống như Gia Long cầu viện Thực dân Pháp diệt Nhà Tây Sơn thành công, rồi cuối cùng nước mình bị Thực dân Pháp đô hộ. Mang danh trí thức, nhưng họ không chịu học bài học lịch sử!

Giá như các nhà trí thức Việt Nam thời bấy giờ cảnh báo cho dân thà bị thằng Tây đô hộ còn hơn bị thằng Tàu đô hộ, thì Hồ Chí Minh làm sao có thể lùa dân ta vào chủ nghĩa cộng sản để dân ta mang nỗi nhục mất nước và mất toàn bộ phẩm giá làm người như ngày hôm nay? Trí thức của mình ngu, nên dân mình không lớn lên được là vậy!

Hồ Chí Minh nhờ binh lính Tàu và vũ khí Tàu mà chiến thắng trận Điện Biên Phủ. Dù Hoa Kỳ giúp Pháp để Pháp thắng trận Điện Biên Phủ thì cuối cùng cộng sản vẫn chiến thắng, vì chủ nghĩa Thực dân đã lỗi thời và kinh tế nước Pháp đã kiệt quệ vì còn phải đối phó với thuộc địa Algérie cũng đang nổi dậy.

Có ba quốc gia trên thề giới lâm vào hoàn cảnh đất nước bị chia đôi. Đó là Đức Quốc, Triều Tiên và Việt Nam. Cả ba nước đều được Hoa Kỳ ra tay giúp ngăn chặn làn sóng đỏ, mà chỉ có Việt Nam bị rơi vào tay cộng sản; còn Đức Quốc thống nhất trong tự do và Hàn Quốc trở nên giàu mạnh.

Chúng ta phải tự hỏi tại sao, đúng không?


Em Trần thị Bông Giấy thân mến,

Trước khi trả lời câu hỏi này, anh xin thuật mẩu chuyện này: Ngày 28 tháng 8 năm 1988 có cuộc họp thống nhất đảng Đại Việt tại vùng vịnh San Francisco gồm có sự tham dự của các lãnh tụ hàng đầu như bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, bác sĩ Đặng văn Sung, kỹ sư Hà Thúc Ký, Đại sứ Bùi Diễm, giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, kỹ sư Cung Đình Quỳ và các cán bộ cao cấp như giáo sư Nguyễn văn Canh, Đặng văn Đệ, Đào Nhật Tiến, Lê Tấn Trạng và anh. Sau khi nghi thức khai mạc chấm dứt, mọi người ra ngồi vào chiếc bàn dài để nghe kỹ sư Cung Đình Quỳ, đồng chí cao niên nhất, mở lời phát biểu đầu tiên. Tuy đã 92 tuổi, nhưng Cụ Quỳ còn tráng kiện, minh mẫn, hùng hồn và đặc biệt tiếng nói rất dõng dạc. Anh có cảm tưởng Cụ Quỳ là hình ảnh Đảng trưởng Trương Tử Anh hiện về để hài tội chia rẽ giữa các đồng chí của mình. Các anh lớn tuổi, lớn chức rưng rưng khóc.

Cuối cùng Cụ Quỳ nói: “Từ nay, tôi yêu cầu các đồng chí phải đoàn kết, gắn bó nhau để cùng nhau phất ngọn Cờ Đại Việt giải phóng Việt Nam”.

Các anh lớn thuộc hàng lãnh tụ bắt tay nhau, bày tỏ sự hối hận một cách chân thành và cam kết sẽ từ bỏ căn bệnh chia rẽ. Rồi lần lượt các đồng chí khác phát biểu một cách hiền hòa. Riêng anh, tuy kém tuổi đời, tuổi đảng hơn các anh, nhưng anh dám phê bình các đồng chí lãnh tụ về nạn chia rẽ Trung Nam Bắc một cách thẳng thừng và kết luận như sau: “Tôi hết sức đồng ý với lời quở trách của đồng chí niên trưởng Cung Đình Quỳ đồi với các đồng chí lãnh tụ, nhưng có một điểm tôi xin phép không đồng ý”. Nói tới đó, anh ngưng. Bao nhiêu cặp mắt đổ dồn về phía anh, chờ đợi.

Anh nói tiếp: “Tôi không đồng ý chỉ phất ngọn Cờ Đại Việt, mà phải là ngọn Cờ Dân Tộc gồm có tất cả đảng phái Quốc Gia để giải phóng Việt Nam. Chúng ta phải đoàn kết toàn dân; chứ không phải chỉ đoàn kết với những đồng chí trong đảng Đại Việt mà thôi”. Mọi người đều im lặng, không một ai lên tiếng phản bác lỳ lẽ mà anh đưa ra. Bầu không khí buổi họp trở nên căng thẳng. Đồng chí chủ nhà – Trung tá Nguyễn Quan Vĩnh, người bạn phi công cùng khóa với anh – đề nghị ngưng buổi họp vì đã tới giờ ăn trưa. Thức ăn nhẹ, nước uống được bày ra trên chiếc bàn dài đặt giữa sân.

Bác sĩ Đặng văn Sung – người anh thúc bá của anh – vẫy anh lại và nói: “Cái thói nhà binh bộc trực của chú vẫn không bỏ. Lời phát biểu của chú vừa rồi là đúng với sự thật, nhưng làm buồn lòng anh Hoàn, anh Ký và anh Huy lắm đấy”. Anh lễ phép đáp: “Thưa anh, chúng ta họp mặt nhau hôm nay để mổ xẻ căn bệnh chia rẽ trong đảng, đã là quá trễ. Đáng lý ra nó phải xảy ra sau khi đồng chí Nguyễn văn Thiệu lên làm Tổng thống. Em rất biết cách nói những lời hoa mỹ để làm đẹp lòng các anh lớn; nhưng đây là cuộc mổ xẻ căn bệnh, ắt phải chịu đau đớn thì mới dứt bệnh”. Bác sĩ Sung nhẹ nhàng: “Anh biết chú nhiệt tình, nhưng cách nói khôn khéo thì dễ mang lại kết quả hơn”. Một lần nữa anh lễ phép đáp:

“Thưa anh, em tự biết em không thể làm chính trị vì thẳng tính, nên em chỉ muốn làm cách mạng để đổi thay vận mệnh Đất Nước. Em mong anh tha lỗi”.

Sau cuộc họp đó, anh không còn được Đảng thông báo cho biết thời gian và địa điểm phiên họp kết tiếp. Đảng Đại Việt Thống Nhất thành hình dưới sự lãnh đạo của bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và kỹ sư Hà Thúc Ký làm Đồng Chủ Tịch. Nghĩa là không ai chịu làm Phó cho ai. Chẳng bao lâu, họ ra tuyên cáo khai trừ lẫn nhau!

Trả lời câu hỏi: “Tại sao Việt Nam Cộng Hòa bị rơi vào tay cộng sản” là một lần nữa anh mổ xẻ vấn đề. Tất nhiên mổ xẻ hay nhổ cái răng không có thuốc tê mê, ắt đau đớn lắm. Anh rất ý thức rằng viết bức thư này cho em thì mình sẽ hứng lấy búa rìu dư luận từ nhiều phía, nhất là từ phía không muốn nghe SỰ THẬT.

Trí thức là bộ óc của dân tộc để dẫn dắt người dân tiến lên trình độ văn minh. Vua Chúa của ta dùng Đạo Nho cai trị, tổ chức thi cử để tuyển nhân tài phục vụ chế độ. Người đi học phải vận dụng trí nhớ để thuộc lòng Tứ Thư Ngũ Kinh, phải nhớ tên các đời vua đã đành, mà còn phải nhớ tên Ông Hoàng Bà Chúa để khỏi phạm trường quy. Thành thử trí thức Việt Nam đỗ đạt bằng cấp to, chỉ cốt làm quan lớn, hưởng bổng lộc nhiều, nhưng đa số có đầu óc thủ cựu, không dám canh tân, vì sợ mất địa vị. Do đó, quần thần dưới triều vua Tự Đức đã gièm pha những đề nghị của Nguyễn Trường Tộ là lời “yêu ngôn hoặc chúng”. Trong khi đó ông bạn học người Nhật của tiên sinh – tên là Yokohama – được Minh Trị Thiên Hoàng và quần thần Nhật hưởng ứng đề nghị canh tân, thì nước Nhật trở nên hùng cường vì không bị ngoại bang đô hộ.

Ngược lại, Hồ Chí Minh du nhập vào Đất Nước chủ nghĩa cộng sản, một chủ nghĩa vô thần, vô gia đình, vô Tổ Quốc, coi tôn giáo là thuốc phiện, chủ trương vô sản và triệt tiêu trí thức thì trí thức Việt Nam hăng hái tham gia. Ngay như Thủ tướng Trần Trọng Kim, một nhà sử học thông thái, cũng không nhìn thấy cái chủ nghĩa cộng sản sẽ biến dân tộc mình thành trại súc vật (không được quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận). Cho nên, Cụ Trần Trọng Kim mới từ chối lời đề nghị của Fukuzawa Yukichi, một sĩ quan người Nhật, sẽ giúp tiêu diệt toàn bộ đầu đảng và tay chân bộ hạ cộng sản. Cụ Kim ảnh hưởng chất “Quân Tử Tàu”, coi cộng sản cũng là anh em trong nhà, có thể giải quyết với nhau trong tình huynh đệ!

Anh hỏi Mẹ anh tại sao Thầy (Bố anh) buồn rũ rượi, khi nghe Cụ Kim từ chối lời đề nghị của viên sĩ quan Nhật tiêu diệt bọn cộng sản. Mẹ anh nói rằng Thầy anh buồn vì Hồ Chí Minh bán đứng nhà cách mạng Phan Bội Châu cho Thực dân Pháp, tức là Hồ Chí Minh thông đồng với Pháp để tiêu diệt các nhà ái quốc nước ta, chứ không nhằm mục đích chống Thực dân Pháp. Hành động của Hồ Chí Minh chứng tỏ hắn làm bất cứ điều gì để đạt được mục đích, kể cả bán nước.

Thầy anh có người bạn đồng nghiệp – bác sĩ Lê Đình Thám – dụ dỗ gia nhập đảng cộng sản, nhưng cương quyết từ chối, còn cảnh báo cho bạn biết rằng cộng sản diệt tôn giáo, diệt trí thức thì dân tộc mình sẽ tiêu vong. Thầy anh thường căn dặn bốn người anh lớn của anh đừng nghe theo lời tuyên truyền của cộng sản mà tham gia. Thế mà người anh cả của anh bị mắc kẹt với cộng sản vì có bà vợ là em gái của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, người có thân phụ bị cộng sản đấu tố cho đến chết mà vẫn nhắm mắt theo cộng sản! Trí thức mà như thế thì người dân làm sao lớn lên được, phải không em?

Năm 1954, nước ta bị các thế lực quốc tế cắt đôi thành hai nước, có hai thể chế khác nhau. Miền Bắc theo quốc tế cộng sản, làm nghĩa vụ Người Lính Tiền Phong trong sự nghiệp nhuộm Đỏ toàn cầu. Miền Nam ĐƯỢC Hoa Kỳ nhảy vào, biến thành tiền đồn ngăn chặn làn sóng Đỏ. Chiến sĩ Miền Nam thành Người Lính Tiền Đồn.

Anh dùng chữ ĐƯỢC là vì nếu nước ta nằm ở một khóc khuất của thế giới như Tây Tạng, Tân Cương thì Hoa Kỳ không nhảy vào để ta có 20 năm vừa chiến đấu, vừa xây dựng một nước tương đối có tự do; trong khi tập đoàn cộng sản Bắc Việt biến xã hội Miền Bằc thành một trại súc vật khổng lồ: Có óc không được suy nghĩ; có mồm không được nói. Ngoan ngoãn thì được cho ăn. Phản đối thì bị bỏ đói cho đến chết!

Trong quá khứ, kẻ thù xâm lăng nước ta bao giờ cũng phịa ra một khẩu hiệu để có chính nghĩa. Ví dụ Nhà Minh xâm lăng nước ta, lấy danh nghĩa “Phù Trần, diệt Hồ” (Hồ Quý Ly). Nhà Thanh xâm lăng nước ta, lấy danh nghĩa “Phù Lê, diệt Trịnh”. Thực dân xâm lăng nước ta, lấy danh nghĩa “Khai hóa dân tộc kém văn minh”. Cộng sản Miền Bắc xăm lăng Miền Nam, lấy danh nghĩa “Giải Phóng Dân Tộc”.

Bọn cộng sản bôi nhọ nhân dân Miền Nam là bè lũ tay sai Đế quốc Mỹ và bọn trí thức ngu đần phụ họa, khiền cho bản thân của chúng cũng điêu đứng sau khi Miền Nam thất thủ.

Cuộc chiến đấu bảo vệ Tự Do của nhân dân Miền Nam hoàn toàn có CHÍNH NGHĨA, nhưng chính bọn trí thức ngu làm mất CHÍNH NGHĨA, nên chúng ta thua trận.

Dân tộc ta quá lâu, học hành đỗ đạt chỉ cốt để làm quan, vinh thân phì da, nặng tinh thần quan liêu gia trưởng, ích kỷ nên kém phần nhận thức cái đúng cái sai cho hướng đi của dân tộc.

Anh xin đề cập đến nhà đại trí thức, đại văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.

Ông Nguyễn Tường Tam du học ở Pháp, đỗ bằng Cử nhân Khoa học. Về nước, ông không làm nghề liên quan đến Khoa học. Ông cùng hai người em – Hoàng Đạo và Thạch Lam – làm báo Phong Hóa, chủ trương đả kích lề thói Hủ Nho của bọn Lý Toét, Xã Xệ. Rồi ông lập ra Văn Đoàn Tự Lực phê phán tấm bằng ban khen “Tiết Hạnh Khả Phong” để giải phóng phụ nữ. Nghĩa là ông làm cuộc Cách Mạng Văn Hóa bằng đường lối “Khai Dân Trí” của nhà cách mạng Phan Chu Trinh.

Ngoài ra Nhất Linh Nguyễn Tường Tam còn hoạt động chính trị. Năm 1938, ông lập ra Đảng Hưng Việt, rồi đổi tên Đại Việt Dân Chính Đảng năm 1939. Ông tham gia Chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến, làm Bộ trưởng Ngoại Giao và Trưởng Phái đoàn thương thuyết với Pháp ở Đà Lạt. Ông từ chối làm Trưởng Phái đoàn dự Hội nghĩ Fontainbleau và chia tay Việt Minh vì nhìn ra bộ mặt đểu cáng, lưu manh của tập đoàn cộng sản Hồ Chí Minh. Ông từng làm Bí Thư trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng (khi Đại Việt Dân chính Đảng hợp nhất với Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng) Nói tóm lại, Nhất Linh không những là thủ lãnh Cách Mạng Văn Hóa, mà còn là thủ lãnh Liên Đảng Chính trị có uy tín nhất, vừa chống Cộng sản vừa chống Thực dân Pháp.

Năm 1954, Hoa Kỳ nhảy vào Miền Nam ngăn chặn làn sóng Đỏ là cơ hội bằng vàng để Nhất Linh cứu nước. Bởi vì ông biết hơn ai hết sự khốn nạn của bọn Thực dân Pháp chống phá chính phủ Miền Nam do Hoa Kỳ yểm trợ. Với thanh danh của một văn hào mà cả nước ai nấy đều biết tiếng tăm, đều có lòng kính mến, cảm phục và với sự hiểu biết sâu sắc chủ nghĩa Cộng sản là một chủ nghĩa man rợ, Nhất Linh chỉ cần tiếp tục làm báo để khai sáng những thành phần trí thức u mê “ăn cơm Quốc gia, thờ ma Cộng sản”. Trái lại, ông lên Đà Lạt sống ẩn dật, vào rừng tìm hoa lan, bất kể Đất Nước ra sao thì ra. Vì thế, giáo sư Lê Hữu Mục mới gọi Nhất Linh là chính khách trùm chăn, mà người con trai út của ông – Nguyễn Tường Thiết – cũng viết sách xác nhận điều đó.

Giả thiết rằng ông coi Tổng thống Ngô Đình Diệm là nhà độc tài, thì cái độc tài của Ngô Đình Diệm vẫn tốt hơn là cái chuyên chính vô sản của Hồ Chí Minh ở Miền Bắc chứ! Bởi vì Ngô Đình Diệm biết đưa những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn vào chương trình giáo dục; trong khi đó Cộng sản Miền Bắc bắt buộc những tác giả Tự Lực Văn Đàn treo cổ, đánh nát những đưa con tinh thần của mình để tiêu diệt một nền văn hóa đồi trụy do ông chủ trương.

Tuyên truyền của bọn Cộng sản mạ lỵ, bôi nhọ, phỉ báng, vu cáo Ngô Đình Diệm tay sai Đế quốc Mỹ là chuyện đương nhiên. Còn ông phải biết chuyện vua Bảo Đại cử ông Diệm làm Thượng thư Bộ Lại (giống như chức Thủ tướng ngày nay) thì ông Diệm yêu cầu Thực dân Pháp thay đổi đường lối cai trị để cho chính phủ Nam Triều có thực quyền, nhưng Thực dân Pháp không chấp nhận, ông Diệm lập tức từ chức. Vậy ông Diệm đâu phải là người bán nước, giống như Hồ Chí Minh làm đơn xin vào học Trường Thuộc địa để làm tay sai cho Thực dân Pháp mà bị Pháp từ chối, thì Hồ Chí Minh đi làm tay sai cho Liên Xô, Trung Cộng để bán nước? Năm 1945, chính Cụ Trần Trọng Kim đề nghị vua Bảo Đại chọn ông Diệm làm Thủ tướng. Điều đó chứng tỏ rằng Cụ Kim đánh giá ông Diệm có khả năng lèo lái con thuyền Quốc gia qua cơn sóng gió. Năm 1954, một lần vua Bảo Đại phải ra sức thuyết phục ông Diệm bằng cách đem tinh thần trách nhiệm cứu nước để yêu cầu ông Diệm đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng thì ông Diệm mới nhận lời. Điều đó càng chứng tỏ ông Diệm đâu phải là loại chính khách thèm khát danh lợi, địa vị?

Ngô Đình Diệm từ nước ngoài về chấp chánh một nước tan hoang vì chiến tranh, vì Thực dân Pháp xúi giục Bình Xuyên, Hòa Hảo chống phá, nhưng ông Diệm đã mang lại sự ổn định tình thế. Ông Diệm được thế giới trọng vọng, coi như là một Gandhi của Á Châu. Khi đi kinh lý Hoa Kỳ, ông Diệm đã được Tổng thống Eisenhower ra tận phi trường đón tiếp và được đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ.

Nếu không được ông Diệm mời tham gia chính phủ, nhưng nếu là người yêu nước thực sự, biết đặt sự sống còn của Tổ Quốc trên danh giá của mình, Nhất Linh phải lấy tư cách nguyên Bí thư trưởng của Đại Việt Quốc Dân Đảng để xây dựng nền dân chủ còn phôi thai bằng cách thể hiện hai điều: Thứ nhất, dùng sự hiểu biết về tai họa cộng sản để dạy cho trí thức, cho dân chống lại sự tuyên truyền dối trá của bè lũ cộng sản; thứ hai, chỉ thị cho cán bộ của mình truy lùng cán bộ cộng sản nằm vùng và tiêu diệt hạ tầng cơ sở cộng sản. Là một nhà hoạt động chính trị, Nhất Linh phải biết hai cán bộ cộng sản – Lê Đình Thám và Võ Đình Cường – đi lập các Khuôn hội Phật giáo, các Gia đình Phật tử khắp nơi là có mục đích dùng Phật giáo làm lực lượng đấu tranh lật đổ Chính quyền Quốc gia.

Trái lại, Nhất Linh tham gia cuộc đảo chánh ngày 11 tháng 11 năm 1960 do bọn tay sai Thực dân Pháp – Trần Đình Lan, Vương văn Đông – chủ trương là một điều hết sức tai hại.

Cuộc đảo chánh bất thành, các đàn em của ông bị bắt và tố giác ông là người chủ mưu cuộc đảo chánh. Vì uy tín của Nhất Linh quá lớn và vì Ngô Đình Diệm kính nể, ông không bị cầm tù ngày nào. Năm 1963, có lệnh ra tòa, vì sợ phải đối chất với những đàn em, Nhất Linh quyết định hủy mình với bức thư tuyệt mạng sau đây:

“Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất vào tay Cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình, cũng như Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.”

(Nhất Linh ngày 7/ 7/ 1963)

Qua bức thư trên, anh nhận thấy Nhất Linh nói không đúng Sự Thật. Chính phủ Ngô Đình Diệm không bắt bớ, đàn áp người ĐỐI LẬP. Bằng cớ là nhóm đối lập Caravelle gồm các chính khách như Phan Huy Quát, Đặng văn Sung, Trần văn Đỗ, Nguyễn văn Huyền, Trần văn Văn … không hề bị bắt. Ông Hà Thúc Ký bị bỏ tù vì lập chiến khu Ba Lòng năm 1955, âm mưu ám sát ông Diệm và bỏ tù những người tham gia đảo chánh như Hoàng Cơ Thụy, Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Vũ Hồng Khanh, Phan Bá Cầm, Bùi Lượng, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Thành Phương, cùng đám thuộc hạ em út gồm Trương Bảo Sơn, Nguyễn Thành Vinh, Vĩnh Lợi, Trần Tương … mà thôi.

Ngoài ra, Hòa thượng Thích Quảng Đức chưa chắc đã tự thiêu, mà do sự dàn cảnh của cộng sản nằm vùng Trí Quang đạo diễn. Gần đây, anh có viết bức thư hỏi người lái xe cho Hòa thượng Quảng Đức – Trần Quang Thuận – ra góc đường Lê văn Duyệt @ Phan Đình Phùng có phải Ngài tự thiêu hay do đám sư tranh đấu đốt Ngài. Trần Quang Thuận im thin thít là đủ biết sự thật rồi.

Theo ông Lê Nguyên Phu, người thụ lý vụ xử Nhất Linh, viết sách cho biết Nhất Linh tự tử là vì sợ đối chất với đàn em tố giác mình chủ mưu gây cuộc binh biến năm 1960; chứ không phải dùng cái chết của mình để cảnh báo nhà cầm quyền làm mất nước.

Người con út ông là Nguyễn Tường Thiết trong hồi ký Nhất Linh Cha Tôi do Văn Mới xuất bản năm 2006 trang 29-30 đã xác nhận: “Thế rồi ông quyết định giã từ tất cả. Đà Lạt, Fim Nôm, dòng Đa Mê và cả trăm giỏ lan mà ông đã chăm sóc từ hai năm qua, để về luôn Sài Gòn, chấm dứt cái thời kỳ mà ông Lê Hữu Mục đã viết trong đoạn kết cuốn sách của ông là “một Nhất Linh nằm trùm chăn ở trên Đà Lạt”.

Đối với tôi, thật bụng tôi chỉ mong ông được nằm trùm chăn lâu hơn vì đây chính là thời gian hạnh phúc nhất trong đời ông mà tôi được biết.

Nhất Linh “xuống núi” lăn vào cuộc đời làm báo, tham gia đảo chính, thất bại, đi trốn, bị đưa ra tòa, đưa đến cái tự vẫn của ông mấy năm sau, mở đầu một thời kỳ cuối cùng của đời ông với nhiều não nề, nhiều chán chường hơn”.

Nếu Nhất Linh là người vô danh tiểu tốt mà tự vẫn, ngay cả vì lý do chống Chính quyền, thì chẳng tác hại gì.

Đằng này, ông lưu lại bức thư tuyệt mệnh tự hủy mình vì lý do chống độc tài và kéo thêm sự tự thiêu của một Hòa Thượng (?) để chống đàn áp tôn giáo, thì chính nghĩa Việt Nam Cộng Hòa chống Cộng sản và xây dựng Dân chủ sẽ không còn nữa.

Chính bức thư tuyệt mệnh của Nhất Linh là cái mồi lửa đốt cháy VNCH và làm cho cuộc xâm lăng của Việt Cộng thắng lợi qua chiêu bài Giải Phóng Dân Tộc.

Em Trần Thị Bông Giấy thân mến,

Vì phải chứng minh cho cô giáo Trần thị Lam và giới trẻ trong nước cũng như hải ngoại hiểu tại sao dân Việt Nam bốn ngàn tuổi mà không chịu lớn, bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm, anh mới phải đề cập đến Nhất Linh, thần tượng của nhiều người – trong đó có anh – một thời cắp sách đến trường.

Thư tới, anh sẽ chứng minh cho giới trẻ thấy tại vì sao Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa; chứ không phải “Đồng Minh Tháo Chạy” như luận điệu của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng. Thân ái chúc em sức khỏe.

Bằng Phong Đặng văn Âu,
Địa chỉ email: bangphongdva033@gmail.com

(Email from reader)

-------oo0oo-------

lacomau
Việt Cộng đối ngoại thì nhu nhược, bán nước,
đối nội thì tàn ác và hà khắc với nhân dân.


Những hình ảnh đẹp của Cộng Đồng Việt Nam

ucchau
Lá cờ vàng Việt Nam được chính quyền địa phương vinh danh và luôn được đồng bào trân trọng trong mọi lễ hội

Covang

CoVang

ucchau
Lá cờ vàng Việt Nam được chính quyền địa phương vinh danh và luôn được đồng bào trân trọng trong mọi lễ hội

congdong

congdong

congdong

congdong

congdong

covang
Lá cờ vàng Việt Nam được chính quyền địa phương vinh danh và luôn được đồng bào trân trọng trong mọi lễ hội

covang
Lá cờ vàng Việt Nam được chính quyền địa phương vinh danh và luôn được đồng bào trân trọng trong mọi lễ hội

 

Home Page Vietlist.us