tittle

bottom

Vietnam

covang

covang

Home Page Vietlist.us

Trang Bạn Đọc dùng đăng tải những bài viết của bạn đọc gởi về cho chúng tôi. Vietlist chấp nhận mọi thể loại mọi đề tài, từ khoa học, kỹ thuật cho tới văn thơ, nữ công, gia chánh... Chúng tôi sẽ đăng tải nếu bài viết thích hợp với lập trường của người Việt Quốc Gia. Xin quý vị gởi bài cho chúng tôi qua email: vietlist09@yahoo.com. Kính chúc quý đọc giả vui khỏe.

Trang Bạn Đọc Sưu Tầm - Vietlist.us

-------------oo0oo--------------

Hành Hương Nước Phật

Mường Giang

Từ miền Nam nước Népal, dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn cao ngất , là quê hương ngàn đời của Dân Tộc Sakya chuyên sống bằng nông nghiệp.
Theo sử liệu nói về tiểu sử của Thái Tử Siddhartha tức Ðức Phật Tổ người sáng lập Phật Giáo, thì đây là sinh quán của Ðức Phật. Năm đó, thân mẫu Ngài, Hoàng Hậu Maya đã 45 tuổi mới mang thai Ngài. Trên đường trở về quê nhà, đã hạ sanh Ðức Phật tại vườn Lâm Tì Ni, từ nách phải. Ta biết xã hội Ấn Ðộ thời thượng cổ theo chế độ đẳng cấp rất nghiệm ngặt. Theo đó, giai cấp thượng đẳng được dành cho các giới tăng lữ Bà La Môn từ Trời sinh ra, gọi là Bràhinana. Kế đó là đẳng cấp Chiến Sĩ hay Quý Tộc cầm quyền, gọi là Kshatriya, sinh ra từ bên suờn. Ngoài ra còn có đẳng cấp Vaishya (thương nhân-địa chủ) sinh ra từ bụng và áp chót là Shùdra (thợ thuyền-công nhân-tôi tớ), từ đáy bàn chân. Việc Ðức Phật sinh ra từ nách phải, không phải là sự ngẫu nhiên nhưng hàm ý cho biết Ngài thuộc một đẳng cấp cao quý trong xã hội Ấn Ðộ lúc đó.

Hiện nay thành phố Kapilavastu không còn nữa và quê hương của Ðức Phật Tổ cũng bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Phần lớn lãnh thổ của Dân Tộc Sakya nay thuộc nước Népal, số còn lại nằm ở biên giới Ấn Ðộ. Nhưng mấy ngàn năm qua, vết chân của Thái Tử Tất Ðạt Ða hầu như vẫn nguyên vẹn khắp hai miền Ðại Giang nước Ấn. Tại Magada còn di tích Linh Tựu Sơn, trên một ngọn núi có hình dáng như một con chim Tựu. Ðây là thánh địa nổi tiếng của Phật Giáo mà thuở sinh thời Ðức Phật đã tới truyền đạo và qui tụ hơn 1220 đệ tử của Phật.

phatTC

Riêng Hằng Hà, muôn đời với nước Ấn, được coi như con sông thiêng bất tử. Sông phát nguồn từ hai nhánh trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn, sau đó băng qua hơn 2500 cây số và ra biển khơi tại vịnh Bangal. Ðây là cái nôi của nền văn hóa Ấn Ðộ , vì thế hai bên bờ có rất nhiều thánh địa của mọi tôn giáo., Ðây cũng là phạm vi truyền giáo của Ðức Phật, cho nên thế nhân đã so sánh tư tưởng nhà Phật như nước sông Hằng, nguồn xa, van dặm, nước chảy không ngừng, có đến tận chỗ mới thấy chí lý. Thật vậy, sông Hằng đối với người Ấn , hầu như đa số khi ra đời, đều tìm đủ mọi cách cho được tắm gội trên dòng sông. Ðến khi quá phần, thì lại mong được hỏa táng thi thể và đem tro cốt phóng vào trong sông nước muôn trùng. Ðức Phật Thích Ca trong khi xuất gia cũng đã trải qua nhiều phương cách, trong đó có nhiều năm hành xác khổ hạnh và cuối cùng đã ngộ.

phatTC
Giếng thiêng nơi Hoàng Hậu Maya tắm sau khi Đức Phật đản sanh trong vườn Lâm Tỳ Ni bên Nepal

Nơi đó , nay gọi là bến Ni Liên Thiền, nơi Phật tắm gội tẩy trần và được một bé gái mục đồng bố thí cho một bát sữa bò. Chỗ bố thí này, ngày nay là một thánh đường Ấn Ðộ Giáo. Ngay chiều đó, Ngài qua sông và đến tọa dưới gốc một cây Bồ Ðề , thuộc vùng núi Caya, với tâm nguyện “không Chính Giáo, sẽ không bao giờ đứng dây”. Cỏ ngày xưa, Phật trải để ngồi, được gọi là Kim Cương Tòa, còn ngôi Tháp cao lớn uy nghi kế đó, cũng là Thánh Ðịa của Phật Giáo, được gọi là Ðại Tháp Bồ Ðề Caya. Ngày đắc đạo, Ðức Phật trở lại thành Madaga và được nhà vua tặng Trúc Lâm Tịnh Xá, cũng chính là Ngôi Chùa đầu tiên của Ðạo Phật nhưng Trung Tâm Thuyết Pháp đương thời lại là Kỳ Viên Tịnh Xá, ngày nay di tích này chỉ còn lại có một Ðại Phật Tháp hư phế, đứng cheo leo cô độc, trên một đỉnh núi cao chừng 100m. Năm 35 tuổi, Ðức Phật ngộ đạo và bắt đầu sự nghiệp truyền giáo.

lamtini
Vườn Lâm Tì Ni

Từ đó gót chân của Ngài gần như giẫm nát từ Lộc Dã Uyển Tự Miếu, ở ngoại ô thành phố Varasani (nay là Bénares), thu lại 5 đại đệ tử đầu tiên và những thánh tăng này về sau trở thành những Tăng Già sớm nhất trong Phật Giáo. Ngày Thánh Tăng Ðại Ðường Trần Huyền Trang, tức Tam Tạng đến tham quan Lộc Dã Uyển, thì nơi đó đang có 1500 tăng lữ theo học. Năm 80 tuổi, sau 45 năm truyền đạo, Ðức Phật đã viên tịch tại Thành Kusinàrà, bên cạnh đệ tử là Canan. Ngày nay khu rừng nơi Phật tịch, gọi là Niết Bàn Ðường.

Nhân mùa Phật Ðản năm 2553 (Phật lịch) theo vết chân Ðức Phật thăm lại những nơi chốn ngày xưa, nay đã trở thành những địa danh nổi tiếng, gắn liền với một tôn giáo hoàn cầu cũng là một nền văn hóa tuyệt diệu.

TÌM VỀ NGUỒN GỐC CỦA BỤT-PHẬT VÀ CHỮ VẠN:

Hai nhà nghiên cứu Ðinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, khi phân tích hai danh từ Bụt và Phật, đã viết rằng, ‘Bụt và Phật‘ phản ảnh hai con đường của Ðạo Phật , từ Ấn Ðộ du nhập vào Việt Nam. Bụt phiên âm từ chữ Phạn ‘Buddha’, nên coi như trực tiếp từ Ấn Ðộ. Còn danh từ Phật, thì bắt nguồn từ Hán Việt, nên coi như gián tiếp ở Trung Hoa sang. Còn hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chí, lại viết rằng, Bụt và Phật đều có nghĩa giống nhau nhưng Bụt là từ ngữ dân gian, còn Phật là danh từ bác học. Hai tác giả này còn căn cứ vào danh từ Bụt để chứng minh là đạo Phật truyền vào nước Nam trước khi sang nước Tàu.

Theo từ nguyên, ta biết hai danh từ Bụt và Phật, đều là những hình thức phiên âm của Phạn ngữ (sanakrit) ‘ Buddha’, được người Hán phiên âm ra nhiều cách và chúng ta đọc theo âm Hán Việt là Phật Ðà, Phật Ðồ, Phù Ðồ hay Phật.. Riêng chữ Bụt cũng là Phật nhưng đọc theo âm Hán Việt xưa. Tóm lại cả hai danh từ Bụt và Phật đều là chữ Hán Việt, chỉ khác một đằng đọc theo âm xưa (Bụt), còn một cách đọc theo nay (Phật), chứ không phải khác biệt, vì con đường du nhập hay tính cách bình dân hoặc bác học.

benPhat

Ngày xưa, trong khi phiên âm các tiếng từ Phạn ngữ sang Hán học, họ hay chọn các danh từ có lối phát âm rất gần với từ nguyên (âm gốc) như Bụt thì đọc gần tương ứng với Buddha . Trái lại ngày nay chữ Phật đọc lên rất khác biệt với âm Bud, nguyên do được giải thích , vì sự biến đổi của ngữ âm qua nhiều giai đoạn. Nói chung Bụt và Phật là hai cách đọc khác nhau của cùng một chữ Hán, phiên âm âm tiết của danh từ Sanskrit Buddha. Do trên không thể vin vào đó mà kết luận rằng Ðạo Phật đã tới VN trước khi du nhập Trung Hoa.

Riêng chữ Vạn trong Phật giáo, được coi như Tiêu Chí Cát Tường. Ðó là 1 trong 32 tướng của Phật. Ngoài ra trong các hình thức kiến trúc chùa chiền hay các vật dụng thuộc về Phật giáo, chữ Vạn luôn là biểu tương của các hình vẽ hay trang trí. Nói chung, đó là nét đặc trưng của nền văn hóa đạo Phật. Giống như cách giải thích về hai danh từ Bụt và Phật , cách phát âm của chữ Vạn cũng đã từng gây tranh cãi nhiều thời trong lịch sử học thuật tại Trung Hoa. Thời Bắc Ngụy, Phổ Ðề Lưu Kỳ đã dịch biểu tượng của Phật là Vạn, trong tác phẩm ‘Thập Ðịa Kinh Luận‘ nhưng sau đó thời Ðại Ðường, các thánh tăng như Cưu Ma La Thập, Huyền Trang.. trong các tác phẩm như Nghiêm Hoa Kinh, Vô Lượng Nghĩa Kinh.. đều dịch chữ Vạn là Ðức.

Ai vũng biết tại Ấn Ðộ, hầu như các kinh điển cơ bản, khởi nguồn của Phật giáo gần như bị tiêu hủy, không còn nguyên vẹn, cho nên người sau đã không thể căn cứ để chứng nhận là Giới Phật Học lúc đó, đã đọc biểu tượng của Phật là gì. Chữ Vạn hiện nay, theo cách mà chúng ta đang đọc, qua sử liệu cho thấy đã căn cứ theo tài liệu phiên dịch từ thời nhà Tống. Ta biết, Phật Giáo từ Ấn Ðộ du nhập vào Trung Hoa cũng như mọi nơi trên thế giới và dĩ nhiên chữ Vạn cũng là độc sáng của giới tăng già Ấn Ðộ.

Thế nhưng trên thực tế, ai là tác giả của chữ Vạn, đã có nhiều tranh chấp phức tạp và chiến trường chữ nghĩa này, đã khởi nguồn ngay từ đời nhà Tống. Sự tranh chấp khởi đầu, khi các tăng nhân trong lúc phiên dịch bổ túc bộ ‘Danh Nghĩa Tập‘ đã ghi chú chữ Vạn, với nghĩa là ‘Cát Tường Vạn Ðức‘ và khẳng định tác giả chữ này, là Võ Tắc Thiên, đã sáng chế vào năm Trường Thọ thứ 2, khi cướp ngôi nhà Ðường đổi thành nhà Châu. Dĩ nhiên giả thuyết này đã bị đánh đổ ngay lúc đó, vì thực tế thiếu các minh chứng khoa học và trên hết chữ Vạn đã có mặt hầu hết trong các kinh điển, khi Phật Giáo du nhập vào Trung Hoa, trước khi Võ Tắc Thiên chào đời.

Sóng gió lại nổi lên, vào năm 1980 tại huyện Dân Hòa, tỉnh Thanh Hải bên Tàu, các nhà khảo cổ đã khai quật được một bình gốm sứ cổ cao, chung quanh có vẽ bốn chữ Vạn bằng nét nghiêng, có vòng tròn bên ngoài. Qua nghiên cứu cùng phỏng đoán , chiếc bình này ra đời vào thời kỳ Ðồ Ðá Mới, cách đây chừng 6 tới 7000 năm . Sự trùng hợp trên, cũng đã được tìm thấy nhiều văn vật, cũng thuộc thời kỳ Ðồ Ðá Mới, ở Cam Túc, Thanh Hải, Mông Cổ, Quảng Ðông và đặc biệt trong một ngôi mộ cổ thời Chiến Quốc, cũng có nhiều tiêu chí , khắc hình các thiên thể bằng chữ Vạn, và chua đó là ngôi sao Chổi. Dù trình độ về hội họa có khác biệt nhưng nói chung mô hình của chữ Vạn thi giống nhau như khuôn đúc. Ðiều này, cho thấy những cổ dân ở Trung Hoa, đã sử dụng phù hiệu của Chữ Vạn, trước khi Phật giáo từ Ấn Ðộ du nhập vào đất nước này.

Nhưng đồng thời tại nhiều nơi trên thế giới, phù hiệu Chữ Vạn cũng được các học giả tìm thấy trong nhiều di chí cổ tại Hy Lạp, Ba Tư và Ấn Ðộ. Do trên người ta đã lập luận rằng, chữ Vạn là một loại ký hiệu, phù chú hay là biểu tượng của một nền văn minh cổ, thờ Lửa và Mặt Trời. Ðiều kỳ lạ là hình thức chữ Vạn, từ mọi nơi trên thế giới đều giống nhau. Ðiều trên đã khiến cho bí ẩn của biểu tượng trên càng lúc càng trở nên bí mật và do thế, chẳng ai nhịn ai về tác quyền của chữ này.

HÀNH HƯƠNG XỨ PHẬT MIỀN THIÊN TRÚC:

Bang Bihar nằm về phía đông bắc Ấn Ðộ, có diện tích bằng nửa VN nhưng dân số lên tới 90 triệu người. Ðây là bang được xem như nghèo nhất của nước này vì khí hậu khô hạn và bất thường, không thích hợp với một quốc gia sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Tại biên giới Ấn-Népal dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn, cách Bihar chừng 300 km về phía bắc , có thánh địa Lâm Tỳ Ni (Lumbini) nơi ra đời của Ðức Phật Thích Ca. Riêng tại bang Binar từ lâu đã nổi tiếng khắp thế giới, vì có tới ba thánh địa của Phật Giáo như Bodh Gaya (Bồ Ðề Ðạo Tràng) là nơi mà 2500 trước đây, Ðức Phật Thích Ca đã đắc đạo dưới cội bồ đề. Thành Kushinagar (Câu Thị Na) nơi Phật nhập niết bàn và Vườn Lộc Uyển (Sarnath) là chốn mà Ðức Phật thuyết pháp lần đầu tiên, sau khi đắc đạo. Tuy mang tiếng là quê hương của Ðức Phật và là vùng đất có nhiều Thánh Ðịa, Thánh Tích , Thiền Viện quan trọng và nổi tiếng nhất thế giới nhưng tới nay, số tín đồ Phật Giáo tại hai nước Népal-Ấn Ðộ , chỉ chiếm một tỉ lệ quá thấp, không vượt quá 2%.

phatTC

BỒ ÐỀ ÐẠO TRÀNG ( BODH GAYA):


Tuy không phải là thủ phủ của bang Bihar (Patna ) mà chỉ là một quận nhưng Gaya lại được cả thế giới biết tới qua du lịch, hành hương tại ba thánh địa của Phật giáo. Từ năm 2003, Gaya đã có một phi trường quốc tế nhưng do giá vé rất mắc mỏ, nên hàng tuần, chỉ có một chuyến bay thẳng của Hãng Hàng Không Ấn Ðộ, từ Bangkok tới Gaya.

Bồ Ðề Ðạo Tràng hiện nay là một thánh địa lớn nhất của Phật Giáo, hằng năm thu hút hàng triệu khách hành hương, du lịch , không riêng gì Á Châu mà có cả Âu-Mỹ-Phi-Úc.. tìm tới đây để tận mắt chiêm ngưỡng các di tích xa xưa của một trong những nền văn hóa lớn nhất của hoàn cầu. Thánh tích ngày nay nằm cách khu phố cổ Gaya chừng 12 km về hướng bắc và thủ phủ Patna của bang Bihar khoảng 106 cây số. Dù chỉ là một thị trấn nhỏ nhưng Bodh Gaya rất nhộn nhịp và đầy đủ tiện nghi, từ nhà bưu điện, ngân hàng, khách sạn, chợ buá, các công ty du lịch.. cho tới những cơ sở dịch vụ Internet. Do thời tiết khắc nghiệt trong vùng, nóng quá độ còn lạnh thì chết người, nên Hành Hương-Du Lịch chỉ nở rộ từ tháng 10-2 mà thôi.

Bồ Ðề Ðạo Tràng tới nay là một địa danh đã có bề dầy lịch sử hơn 2500 năm. Ðây là khoảng không gian rộng lớn, liên quan mật thiết tới cuộc đời tu và hành đạo của Ðức Phật, từ khi Ngài quyết định, từ bỏ lối tu hành xác của các giáo sĩ Bà La Môn, tới khi giác ngộ được chân lý dưới cội bồ đề. Theo tiến sĩ sử học người Ấn là D.C.Ahir, thì chính Ðại Ðế Ashoka (A Dục) là người đã khai sinh ra thánh địa nổi tiếng này vào năm 259 trước Tây Lịch, sau một lần tới hành lễ. Từ đó trong suốt 1500 năm, nơi này đã thu hút không biết bao nhiêu là khách hành hương. Năm 250 trước TL, chính Ngài đã cho xây ngôi đền thờ Phật đầu tiên tại thánh địa. Hiện nay còn lưu lại nhiều di tích quan trọng tại chỗ như Tháp Ðại Giác, Cội Bồ Ðề, Kim Cương Toà, dòng sông Ni Liên cùng với một số di tích liên quan tới bảy ‘ tuần thất’ của Ðức Phật sau khi giác ngộ. Nhờ những đồng tiền vàng chôn quanh quẩn khu vực, có ghi niên lịch nên các nhà khảo cổ đã xác định được thời gian xây cất. Nói chung thánh tích hiện còn tồn tại, tất cả hầu như đều đã trải qua nhiều lần bị tàn phá, rồi trùng tu dưới nhiều triều vua chúa Ấn Ðộ.

Cũng theo tài liệu dẫn trên, ta biết chính vua Brahmin của xứ Bengal, vì kỳ thị Phật giáo, nên vào năm 600 sau TL, đã ra lệnh hủy hoại tất cả đền tháp ở vùng nay, kể cả cây bồ đề nguyên thủy mà Ðức Phật đã thiền định. Nhưng năm 620 sau TL, một vị vua sùng đạo Phật tên Raja Purna Varmar đã cho trồng lại cây bồ đề từ một cây con, xây lại bửu tháp và xây tường cao 7m để bảo vệ. Về sau, thánh địa lại nhiều lần bị người Hồi và Bà La Môn đốt phá, cuối cùng suy tàn theo đạo Phật trên đất Ấn từ thế kỷ 13 sau TL.

bode
Tháp Bồ Đề Đạo tràng

Năm 1811, tiến sĩ Buchanan Hamilton, một nhà khảo cổ người Anh , đã phát hiện ra Tháp Ðại Giác tại Bồ Ðề Ðạo Tràng, trong tình trạng đổ nát. Nhưng nhờ một nhà khảo cổ nổi tiếng của thế giới là Cunningham, vào năm 1871 đã vận động với thế giới, trùng tu và làm sống lại Thánh địa của Phật Giáo. Cũng từ đó, Bồ Ðề Ðạo Tràng được người Ấn Ðộ giáo điều hành. Chính nhà khảo cổ trên, đả chiết một cây bồ đề con từ gốc bồ đề nguyên thủy trồng tại Tích Lan, đem về trồng ở Bồ Ðề Ðạo Tràng và đã tồn tại tới ngày nay. Năm 1949 Ấn được độc lập nên Thánh Ðịa lại do bang Bihar quản trị. Năm 1952, chính phủ Liên Bang Ấn mới chính thức thành lập một Ủy Ban Quản Trị ( gồm 4 tu sĩ Phật và 4 tu sĩ Ấn giáo), điều hành và trách nhiệm gìn giữ bảo vệ các di tích lịch sử trên. Tháng 6-2002 cơ quan Unesco chính thức thừa nhận Tháp Ðại Giác là một kỳ quan của nhân loại.

Bodh Gaya hiện tại, không khác gì một Liên Hiệp Quốc Phật giáo, vì đã có rất nhiều chùa chiền đủ quốc tịch Nhật Bản, Trung Cộng, Thái Lan , Miến Ðiện, Bhutan, Népal, Tây tạng, Ðài Loan, Tích Lan.. tập trung trong khu vực, quanh quẩn Tháp Ðại Giác. Năm 1987, VN Phật Quốc Tự được khởi công và hoàn thành vào năm 2003, trên một khuôn viên rộng 3 ha, cách tháp Ðại Giác chừng 2 km.

LÂM TỲ NI, NƠI ÐỨC PHẬT RA ÐỜI:

Lâm Tỳ Ni thuộc quận Basti của nước Népal, nơi mà cách đây hơn 2553 năm Ðức Phật Tổ đã chào đời. Dựa theo tác phẩm “Lịch sử văn minh” của sử gia Will Durant, ghi lại truyền thuyết về sự ra đời của Ðức Phật, cũng như gia thế của Ngài, trong đó có địa danh Lâm Tỳ Ni đi vào thiên cổ.

Năm 250 trước TL, hoàng đế A Dục (Ashoka), trong khi du hành các thánh tích của Phật Môn, đã cho dựng một Bia đá và bức tường bao quanh, ghi lại chuyến công du của mình. Tại Lâm Tỳ Ni còn có đền thờ Hoàng Hầu Maya, xây dựng vào thế kỷ thứ 3 trước Tl và một bia đá , khắc họa Phật Ðản Sinh. Thế kỷ thứ 7 sau TL, nhà sư Huyền Trang khi tới Thiên Trúc thỉnh kinh, có ghé thăm Lâm Tỳ Ni, ghi lại trong bút ký rằng trụ đá do vua A Dục dựng vẫn còn nhưng đã bị hư hại theo thời gian. Sau đó Lâm Tỳ Ni đã chìm trong bóng tối quên lãng suốt 10 thế kỷ biển dâu.

lamtini
Vườn Lâm Tì Ni

Năm 1895, tiến sĩ người Ðức là Alois Fuhre, cũng là một nhà khảo cổ. Trong một cuộc khai quật, đã tìm thấy Cột đá của vua A Dục, dù bị chôn vùi trong lòng đất bao nhiêu thế kỷ nhưng mầu nhiệm thay, những hàng chữ Brahmi và Prakrik năm xưa vẫn in đậm nét trên thân trụ : “Ðây là nơi sinh của Ðức Phật, nên vùng Lâm Tỳ Ni được miễn thuế, còn mức lợi tức thì giảm còn 1/8..” Tuy nhiên , dù phát hiện được một nơi chốn quan trọng hàng đầu của Phật giáo, nhưng phương Tây vẫn không giúp gì để làm hồi sinh thánh tích Lâm Tỳ Ni. Năm 1967, U Thant người Miến Ðiện , đắc cử chức vụ Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, tới viếng thánh tích và sau đó kêu gọi các nước giúp đỡ , làm hồi sinh phát triển Lâm Tỳ Ni. Kế hoạch được 13 quốc gia hưởng ứng, trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ðại Hàn, Ấn Ðộ đóng góp tài chính và giao cho một kiến trúc sư người Nhật, là giáo sư Kenzo Tenge thực hiện các kế hoạch xây dựng tu viện, nhà bảo tàng, kể cả con đường dẫn tới Lâm Tỳ Ni.

Trong sự làm hồi sinh Lâm Tỳ Ni ngày nay, phải nhắc tới công lớn của một nhà sư VN là Thượng Tọa Huyền Diệu, người khai phá VN Phật Quốc Tự tại Bồ Ðề Ðạo Tràng. Chính Ông là người từ năm 1987 đã vận động với quốc vương Népal cùng Thủ Tướng nước này, xin cấp đất dựng chùa VN, đồng thời đã đi chu du nhiều quốc gia Phật giáo Châu Á, kêu gọi xây dựng chùa tại Lâm tỳ Ni. Do trên tới nay, đã có 17 ngôi chùa của các nước Nhật, Ðại Hàn, Trung Cộng, Thái Lan cũng như các Trung tâm văn hoá Phật Giáo xây dựng tại đây. Riêng ngôi chùa VN dù nay chưa hoàn thành, đã nằm trong một khu đất gần nơi ra đời của Ðức Phật.

vnqt
VN Phật Quốc Tự tại Vườn Lâm Tì Ni

Tuy vậy Lâm Tỳ Ni vẫn chưa khởi sắc là một trung tâm du lịch như Bồ Ðề Ðạo Tràng, dù đã có một vài khách sạn nhỏ của người Nhật hay Tích Lan. Do trên hầu hết du khách hay khách hành hương đều cư ngụ tại Sunauuli hay thị trấn Bhairahawa cách Lâm Tỳ Ni chừng 20 km. Ðây là một xứ Phật duy nhất trên thế giới, vì tất cả đều có dính dấp tới nhà Phật, như quốc lộ Tất Ðạt Ða (Siddhartha-highway), khách sạn Niết Bàn (Nirvana hotel), hãng hàng không Ðức Phật (Buddha Air). Thị trấn tuy nhỏ hẹp nhưng có đủ khách sạn, hàng ăn, cửa hàng buôn bán kể cả cơ sở lo dịch vụ Internet.

Ngoài ra còn có một sân bay nối liền với kinh dô Népal là Kathmandu. Trong khu vực Lâm Tỳ Ni còn một di tích lịch sử cũng quan trọng, đó là Hồ Pushkarni, tương truyền là nơi Hoàng Hậu Maya đã tắm trước khi sinh Thái Tử Tất Ðạt Ða. Hồ được trùng tu vào năm 1933 hình vuông nhưng theo truyền thuyết nguyên thủy có hình tròn hoặc chữ nhật.. Trong khu vực này, khang trang hơn hết là ngôi chùa của Trung Cộng xây theo mô hình Thiếu Lâm Tự với kinh phí hơn 5 triệu đô la, trong đó tại Bồ Ðề Ðạo Tràng, chùa Phật của Trung Cộng rất khiêm tốn. Ðiều này đã nói lên Trung Cộng chỉ phô trương chính trị, vì bang giao giữa Ấn-Trung chỉ ngoại giao, trong lúc tại Népal, Cộng Sản theo Mao.

PHẬT GIÁO TRÊN ÐẤT ÂU CHÂU:

Tại Âu Châu, chính những nhà truyền giáo theo chân các đoàn quân viễn chinh Anh, Pháp, Bồ, Y Pha Nho, Hòa Lan.. là các nhân vật đầu tiên tiếp xúc với Phật Giáo Á Châu, từ thế kỷ thứ XIII nhưng chính Triết Gia Pháp là Eugène Burnouf (1801-1852), được đánh giá là người Âu đầu tiên có công trình nghiên cứu Phật giáo một cách nghiêm túc đứng đắn của một học giả, qua các bản kinh Phật gốc viết bằng các cổ ngữ Ấn như Pali, Sanskrit, Tây Tạng.. Về sau có rất nhiều học giả lỗi lạc, tiếp tục các công trình nghiên cứu quy mô hơn nhưng họ vẫn đánh giá cao tác phẩm mở đường vào Phật giáo của Burnouf.

Nhưng chỉ mấy chục năm sau, Âu Châu đã nở rộ phong trào nghiên cứu các tông phái Phật giáo đương thời, gồm các học giả, trí thức trong ba trường chính, thuộc các nước Anh-Ðức (chuyên về kinh tạng Pali), Pháp-Bỉ ( về PG Ấn qua tiếng Sanskrit và PG Trung Hoa-Tây Tang) và Nga (PG Ấn-Trung và các quốc gia Á Châu)

Năm 1819, triết gia Ðức Arthur Schopenhauer (1788-1860) qua tác phẩm “thế giới là ý chí và biểu tượng”, đã tạo một ảnh hưởng sâu sắc tại Âu Châu, qua phong trào cổ xuý PG Âu Châu trong suốt thời gian đầu của thế kỷ XX. Rồi thì K.E Neumann(Bỉ), George Grimm vàPAUL Dahlke (Ðức), Edwin Arnold (Anh), đưa Phật giáo từ một học thuyết nghiên cứu, trở thành một tôn giáo đương thời. Năm 1901 Thượng Tọa Nyanatiloka đã xây dựng một tu viện tại Tích Lan, để đào tạo các vị tu sĩ Âu Tây. Cũng từ đó, mà bắt đầu là PG nguyên thủy và kinh tạng tiếng Pali được phổ quát rộng rãi khắp nơi nhưng phải đợi tới năm 1960, giai đoạn Phật giáo phổ cập , chính thức thu hút nhiều tín đồ trong mọi giai cấp. Từ sau năm 1975 tới nay, cho thấy rõ sự chuyển hướng của PG tại Âu Châu, phần lớn là do một số tín đồ PG là người tị nạn Cộng Sản tại các nước và trên hết là công lao hoằng pháp của các vị Ðại Sư Nhật, Tây Tạng, Nam Á và chính những Thượng Tọa, Tu Sĩ người Âu. Ðặc điểm của PG Âu Châu là thực hành tu trì hơn là bàn cãi lý thuyết suông. Tóm lại PG đối với họ là một phương tiện, để chuyển hóa đời sống tinh thẩn hữu hiệu và thiết thực , đối với đa số người Âu Tây sống trong cuộc xô bồ vật chất.

SAMYELING, TU VIỆN PHẬT GIÁO ÐẶC BIỆT TẠI SCOTLAND :

Năm 1995, tu viện PG Ðại Thừa Samyeling của người Scotland, nằm về phía tây thành phố Lockerbie, trên đảo Holy Island, kỷ niệm năm thứ 25 thành lập. Tu viện ngoài việc tu luyện và chiêm bái Phật pháp, còn giúp cho nhiều thành phần trong xã hội làm lại cuộc đời như cai nghiện ma túy hoặc chuyển đổi cuộc sống sa đoạ thành người lương thiện. Ðây cũng là một sự lạ lùng vì ai cũng biết người Anh, Ái, Scotlad rất bảo thủ, bao đời chỉ có đạo Thiên Chúa, Tin Lành hay Anh giáo.. nay bỗng dưng hoan hỉ đón nhận một tôn giáo ngay trên đất nước mình.

Từ một khu trại bỏ hoang của công ty Johnstone House Trust của người Anh bán lại năm 1963, hai Ðại sư tị nạn Cọng Sản Tây Tạng là Trungpa Tulku và tiến sĩ Akong Tulku Rinpoche, đã bỏ tiền bạc cũng như công sức, biến thành một Trung tâm PG Ðại Thùa theo kiểu Tây Tạng, vừa là chốn tu hành, đồng thời cũng là một tu viện nổi tiếng hiện nay. Nhiều người Âu giàu có đã giúp đỡ nhà chùa xây dựng các cơ sở từ thiện như phòng dạy mỹ thuật, dạy cách chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền, lập vườn trồng các cây thuốc Ðông phương và chửa bệnh miễn phí. Ðặc biệt ở đây không bắt buộc mọi người phải theo hay tu đao Phật, sau một năm thụ huấn tại Trung tâm. Ngày nay ai tới chốn này, trước cảnh trời mây non nước muôn trùng, cũng bổng thấy mình khác nào những cánh chim bay, những áng mây trắng và chớp mắt tất cả, ta cũng như đời cùng khuất dần trong cõi xa mù.

lamtini
Budhhist Temple - Scotland.

Hơn mấy ngàn năm trước, Phật Tổ Như Lai trong lúc xuôi ngược tìm chân lý trên dòng sông thiêng của đất nước, qua lớp cát phù trầm, đã sớm nghỉ tới bể khổ của cuộc đời, thật “Hằng Hà Sa Số”. Chí lý thay về một khái niệm so sánh , giữa cái khổ của đời và cái nhiều như cát sông Hằng, như vậy biết lấy gì để mà trang trải, họa chăng chỉ có tu niệm và thành khẩn, để cho lòng nhẹ tếch theo gió, họa chăng mới thoát được bể khổ cuộc đời.

Xưa nay con người lúc nào cũng mơ mộng tìm kiếm sự bất tử. Mới đây người Mỹ đã tuyên bố tìm ra rồi, khi tiến được hai bước quan trọng trong việc thực hiện giấc mơ trên, đó là sự lấy ra và làm đông lạnh tế bào tinh hoàn, mà các nhà kho học gọi là sự bất tử bằng sinh học.

Câu chuyện làm ta nhớ lời Phật dạy : “trong lúc tịnh tâm, nghĩ về điều thiện, điều lành, thì sẽ giúp cho con người sống khoẻ, sống vui. Còn nếu cứ nghĩ tới cái xấu, điều ác, lập tức tim co thắt, máu lên cao và có thể quỵ” Ðó chính là quán chiếu bát nhã sâu xa , có thể độ nhất thiết khổ ách. Phật nghĩ vậy nên trên 2500 qua đã trường sanh bất tử mà không cần phải tìm kiếm sự khổ lụy.

Xóm Cồn Ha Uy Di, Mùa Phật Ðản 2010 - Phật lịch 2554
MƯỜNG GIANG


-------oo0oo-------

comau
Việt Cộng đối ngoại thì nhu nhược, bán nước,
đối nội thì tàn ác và hà khắc với nhân dân.

 

Những hình ảnh đẹp của Cộng Đồng Việt Nam Bắc California

covang
Lá cờ vàng Việt Nam được chính quyền địa phương vinh danh và luôn được đồng bào trân trọng trong mọi lễ hội

covang
Lá cờ vàng Việt Nam được chính quyền địa phương vinh danh và luôn được đồng bào trân trọng trong mọi lễ hội

 


bottom